Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển khu kinh tế Chương 2: Thực trạng phát triển khu kinh tế Nghi Sơn giai đoạn 2010 - 2022 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển khu kinh tế Nghi Sơn đến năm 2035, tầm nhìn 2050. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Andrew Grant trong nghiên cứu Measures on attracting resources to construct and develop a SEZ đã chỉ ra những yếu tố chung để đảm bảo thành công, như: cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết; cần nguồn vốn dài hạn cho cơ sở hạ tầng; tính cạnh tranh là vô cùng quan trọng; các KKT cần phải gần với các trung tâm kinh tế hiện nay.
Khuyến nghị các vấn đề trong phát triển KKT là thu hút xúc tiến đầu tư, xây dựng thương hiệu, giải quyết các rào cản về đầu tư và thủ tục hành chính…[46]. Laura Stone đã nghiên cứu đã phân tích cách tiếp cận của chính phủ thành lập khu kinh tế, đặc khu kinh tế; những vấn đề lưu ý gồm: cụm ngành công nghiệp, các khu chế xuất đồng bộ, điện, nước, giao thông, cơ sở hạ tầng,… Trong đó khẳng định: bên cạnh đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cần cấp bách đầu tư phát triển nhân lực địa phương chất lượng cao, đặc biệt đội ngũ quản lý cấp trung trở lên [51]. Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc đã công bố “Báo cáo đầu tư toàn cầu năm 2019. Các khu kinh tế đặc biệt”, trong đó đã phân tích các loại hình KKT, những thành công và thất bại của các KKT trong vài thập kỷ qua.
Đồng thời khuyến nghị các chính phủ những giải pháp phát triển các KKT trong bối cảnh mới [52]. Ở Việt Nam Võ Đại Lược trong “Nghiên cứu về KKT đặc biệt” thì cho rằng để xây dựng các KKT ở Việt nam cần phải giải quyết 3 vấn đề quan trọng: xây dựng thể chế; xác định địa điểm, mục tiêu phù hợp và các tuyến phát triển; kêu gọi và tìm kiếm nhà đầu tư [20]. Vào năm 2014 Nguyễn Xuân Thành đã phân tích hai yếu tố quan trọng quyết định thành công trong mô hình phát triển KKT địa phương: (1) thu hút đầu tư gắn vào cụm ngành và (2) phát triển cơ sở hạ tầng; trong đó dẫn giải 6 những kinh nghiệm thành công của một số nước trong khu vực; cụm ngành du lịch, công nghiệp cơ khí, hóa dầu, đồ gỗ ngoài trời, chế biến thủy sản, chế biến thức ăn gia súc…[27]. Nguyễn Thường Lạng trong công trình “Thể chế đặc biệt của KKT tích hợp tối đa lợi thế vào huy động tối ưu nguồn lực phát triển dưới áp lực toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế: tham chiếu kinh nghiệm quốc tế và trường hợp Việt Nam”.
Trong nghiên cứu “Kinh doanh thương mại và đầu tư trong đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm các nước và hướng phát triển cho đặc khu kinh tế Vân Đồn” Hà Tôn Vinh chỉ rõ 4 yếu tố chính để đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển KKT gồm: 1) chính quyền địa phương với khung pháp lý rõ ràng nhất là luật; 2) có công trình hạ tầng tối thiểu sân bay, cầu cảng, điện nước…; 3) cần có nhà đầu tư chiến lược; 4) vai trò của tư nhân…[36]. Dưới góc độ địa lí kinh tế-xã hội có một số công trình nghiên cứu về KKT Trong giáo trình Địa lí kinh tế-xã hội đại cương, Lê Văn Trưởng (2005) đã nêu đặc điểm của KKT phát triển (trang 434) và đặc khu kinh tế (trang 436) [32]. Trong tham luận: “Sự hình thành và phát triển các KKT ở một số quốc gia trên thế giới và Việt nam” (Kỷ yếu Hội thảo địa lý toàn quốc lần thứ II. Nguyễn Văn Phú đã đưa ra 10 tiêu chí xây dựng và phát triển KKT bao gồm vị trí địa lý, qui mô diện tích, điều kiện tự nhiên, CSHT, được quy hoạch phát triển, mối quan hệ liên vùng, an ninh - quốc phòng, bảo tồn các di sản văn hoá - kiến trúc, sự đồng thuận của chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương, được các đối tác đầu tư và thương mại nước ngoài quan tâm [21].
Một số công trình nghiên cứu về KKT Nghi Sơn Năm 2007, Lê Văn Trưởng trong nghiên cứu “Đánh giá các nhân tố địa lí trong việc hình thành và phát triển KKT tổng hợp Nghi Sơn” (Tạp chí khoa 7 học. Trường ĐHSP Hà Nội. Tr 88-93), đã phân tích 10 nhân tố địa lí trong việc hình thành và phát triển KKT Nghi Sơn là vị trí địa lý, qui mô diện tích, điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng, quy hoạch phát triển, quan hệ liên vùng, an ninh - quốc phòng, bảo tồn các di sản văn hoá - kiến trúc, sự đồng thuận của chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương, được các đối tác đầu tư và thương mại nước ngoài quan tâm. và kết luận “KKT tổng hợp Nghi Sơn đã hội tụ được 2/3 các điêu kiện địa lí để hình thành và phát triển” [33] Lê Thị Lan (2017) trong luận án tiến sĩ kinh tế “Nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào KKT: trường hợp KKT Nghi Sơn, Thanh Hóa” đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp vào KKT.
Từ kết quả nghiên cứu tổng quan chung và kết quả nghiên cứu thực tiễn tại KKT Nghi Sơn, luận án đã đề xuất các giải pháp thu hút đầu tư vào KKT [16]. Cơ sở lý luận về phát triển khu kinh tế 1. Khái niệm về khu kinh tế Viện Chiến lược phát triển cho rằng: ”KKT là lãnh thổ xác định mà ở đó tập trung các hoạt động kinh tế nhằm khai thác các lợi thế so sánh, đem lại lợi ích kinh tế và hệu quả KT - XH cao cho bản thân lãnh thổ đó và cho cả nước” ([35], Tr 60). Theo Huỳnh Thế Du, KKT là một khu vực giới hạn về địa lí, được quản lý bởi một cơ quan duy nhất, cung cấp các ưu đãi nhất định (thường là miễn thuế nhập khẩu, thủ tục nhanh chóng thuận lợi) cho các doanh nghiệp trong khu vực [12].
Theo Nghị định 82/2018 NĐ-CP). KKT là khu vực có ranh giới địa lí xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển KT - XH và bảo vệ quốc phòng, an ninh. KKT quy định tại Nghị định này bao gồm KKT ven biển và khu kinh tế cửa khẩu. Phân loại các khu kinh tế Các KKT có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau 8 - Theo vị trí địa lí, có KKT ven biển và KKT cửa khẩu.
- Theo cơ cấu kinh tế có: + KKT dựa vào phát triển công nghiệp, dịch vụ, có cảng biển nước sâu, gắn với hệ thống giao thông đường bộ liên kết vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng thu hút các dự án kinh tế động lực; + KKT dựa vào phát triển du lịch biển đảo và dịch vụ. - Theo trình độ phát triển có thể phân ra: Hình 1.1 : Các giai đoạn phát triển của KKT Khu Khu công công nghệ Đô thị nghiệp cao sinh thái đổi mới Đặc khu Khu kinh tế công nghiệp (Nguồn: UNIDO, 2015) 1. Vai trò của khu kinh tế - Nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hầu hết các mô hình KKT mới được thiết kế để thu hút đầu tư nước ngoài [49].
UNIDO (2008) cũng cho rằng KKT có vai trò là một nam châm thu hút đầu tư của các nước Châu Á. - Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế: quá trình phát triển của KKT sẽ đạt được kết quả tích cực, góp phần đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. - Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư. Các KKT có vai trò như "van áp lực" để làm giảm bớt tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng.
- Các KKT góp phần cải thiện các chính sách kinh tế xã hội. Các KKT thường hoạt động như phòng thí nghiệm để thử nghiệm đối với việc áp dụng các chính sách và cách tiếp cận mới. 9 - Thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Quá trình đầu tư xây dựng khu kinh tế gắn liền với việc hình thành, tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội văn minh, hiện đại, có giá trị lâu dài.4 Phân biệt KKT và KCN Khu kinh tế Theo khoản 13 Điều 2 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh.
Cụ thể, khu kinh tế bao gồm: - Khu kinh tế ven biển là khu kinh tế được thành lập ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển. - Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế được thành lập ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền. - Khu kinh tế chuyên biệt là khu kinh tế được thành lập ở vùng kinh tế trọng điểm, hành lang phát triển, khu vực động lực phát triển hoặc khu vực có vai trò tương tự được xác định trong quy hoạch vùng. (Khoản 14, 15 và 16 Điều 2 Nghị định 35/2022/NĐ-CP) Khu công nghiệp Khu công nghiệp là khu vực có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống, được quy hoạch tại những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, trong đó, tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng công nghiệp.
Khu công nghiệp do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập và được đặt dưới sự quản lí trực tiếp của Ban quản lí khu công nghiệp cấp tỉnh. Các doanh nghiệp hoạt động tập trung trong khu công nghiệp (doanh nghiệp 10 khu công nghiệp) được đảm bảo cơ sở hạ tầng hoàn thiện, được cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và các tiện ích công cộng khác với chất lượng cao và được hưởng nhiều ưu đãi trong chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu, sử dụng đất đai. của Nhà nước Việt Nam. Nghị định 82/2018/NĐ-CP nêu rõ Khu công nghiệp là địa bàn ưu đãi đầu tư, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo pháp luật về đầu tư.