CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP - KHU CHẾ XUẤT Quy luật phát triển và tổ chức không gian các khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không nằm ngoài quy luật phát triển và tổ chức không gian công nghiệp nói chung. Trên thế giới, có nhiều lý thuyết về phát triển và tổ chức không gian công nghiệp, trong đó, một số quan điểm dựa chủ yếu vào các nhân tố khách quan gắn liển với cơ cấu nguồn lực nội sinh lẫn ngoại sinh của từng vùng, từng quốc gia và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật cụ thể của từng ngành công nghiệp: còn những quan điểm còn lại đặt nền tảng vào hành vi của các nhà đầu tư. Mặt khác, không gian công nghiệp là một bộ phận quan trọng của không gian kinh tế - xã hội, như vậy quá trình tổ chức không gian công nghiệp có những ảnh hưởng nhất định, thậm chí là quyết định đến toàn bộ quá trình tổ chức không gian kinh tế - xã hội, nhưng đồng thời cũng chịu những tác động từ các quá trình tổ chức không gian các lĩnh vực khác. Như vậy, các khái niệm chung về không gian kinh tế - xã hội, về sự hình thành và phát triển các không gian kinh tế - xã hội cũng là những lý luận cắn thiết khi xem xét đến cơ sở lý luận của việc phát triển và tổ chức không gian công nghiệp.
Khái niệm không gian kinh tế = xã hội và tổ chức không gian kinh tế ~ xã hôi 1. Không gian kinh tế - xã hôi - Là một bộ phận lãnh thổ có khả năng cung cấp những nguồn lực phát triển, chon lọc các hoạt động kinh tế- xã hội thông qua những quan hệ phân bố, những liên kết kinh tế liên ngành, liên vùng và quốc tế. Dưới góc độ tổ chức không gian, người SVTH: PHAN ĐỨC THÁI 8 ta thường xem không gian kinh tế- xã hội là một trường lực (giống như các trường lực trong vật lý hoc), với 3 thành phan sau đây: - Trung tâm kinh tế-xã hội (còn gọi là cực hay nút phát triển): là nơi có nhiều nguồn lực thuận lợi, tập trung dân cư đông đúc, các hoạt động công nghiệp chế biến và dịch vụ phát triển hơn cả. Đây là bộ phận tạo ra các lực liên kết kinh tế- xã hội, hay còn được gọi ngắn gọn là bộ phận tạo lực.
- Hành lang phát triển: là nơi diễn ra các dòng liên kết kình tế- xã hội giữa các trung tâm. Thực chất đây chính là mang lưới hạ tang, bao gồm: đường sá, bến bãi, điện, thông tin liên lạc thông qua hành lang, sức phát triển từ trung tâm sẽ dẫn truyền ra các bể mặt, hành lang phát triển đi đến đâu ở đó sẽ có sự phát triển. Hành lang phát triển là bộ phận thực hiện các lực. - Bể mặt: là những “chỗ trống” của không gian kinh tế xã hội, dân cư thưa thớt, phát triển chủ yếu các ngành nông nghiệp, công nghiệp khai thác.
Bể mặt là bộ phận chịu tác động bởi các lực từ trung tâm thông qua hành lang, những nơi nào gan trung tâm và hành lang sẽ có trình độ phát triển cao hơn, càng xa trung tâm, hành lang càng kém phát triển. Nơi nào sức ảnh hưởng của trung tâm trở nên không đáng kể, đó chính là ranh giới của bể mặt. Tổ chức không gian kinh tế =xã hôi Là quá trình lựa chọn có tính chiến lược các cách thức phát triển và bố trí những trung tâm, những hành lang, các bể mặt, trên cơ sở tận dụng cao nhất các nguồn lực, tạo ra một cơ cấu không gian kinh tế- xã hội tối ưu trong một giai đoạn phát triển nhất định. Để đảm bảo tính chiến lược, có tầm nhìn sâu rộng và tổng hợp, quá trình tổ chức không gian kinh tế -xã hội phải được thực hiện một cách trình tự, có kế thừa và điều chỉnh qua lại giữa các bước sau đây: SVTH: PHAN ĐỨC THÁI 9 KHÓA LUẬNTỐTNGHIỆP GVHD:TS.PHẠM TH] XUAN THỌ - Phân vùng kinh tế: định hướng phát triển các ngành kinh tế trong một cơ cấu có chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp trên phạm vi cả nước cũng như từng vùng (tẩm nhìn rong, lâu dai).
- Lập tổng sơ đổ phát triển và phân bố các ngành, các vùng kinh tế lớn: thực chất đây là những sơ đổ phát triển và phân bố từng vùng, từng ngành kinh tế lớn (tẩm nhìn lâu đài, bao quát trên toàn vùng lớn, toàn quốc, thậm chí thế giới nhưng giới hạn ở từng ngành). - Quy hoạch vùng: tổ chức hợp lý và cụ thể hơn toàn bộ các hoạt động kinh tế, dân cư, mạng lưới hạ ting sản xuất và xã hội trên một không gian không lớn lắm. Quy mô không gian thích hợp cho bước quy hoạch, tức là quy mô có khả năng đảm bảo cả tính hợp lý nhất lẫn cụ thể nhất của quy hoạch so với những bước trước, thường phải nhỏ hơn cấp vùng kinh tế lớn và lớn hơn một đơn vị sản xuất (tam nhìn sâu, cụ thể, tổng hợp nhiều mặt khác nhau trong phạm vi không gian hẹp). Lý thuyết vị trí phân bố công nghiệp tối wu Lý thuyết này dau tiên do tác giả Alfrer Weber (1909) đưa ra, sau đó được các tác giả Greenhut (1956) và Smith (1981) cải thiện.
Lý thuyết vị trí phân bố công nghiệp tối ưu quan tâm đến hai yếu tố: - Một là, đặt gắn các đấu vào quan trọng như nguyên liệu, nhiên liệu -năng lượng, lao động, vốn đầu tư và đầu ra là thị trường tiêu thụ sản phẩm. - Hai là, chi phí đầu vào và phân phối sản phẩm đến thị trường tiêu thụ phải thấp: trong đó, yếu tố chi phí được xem là quan trong hơn cả. Vị trí phân bố công nghiệp tối uu phải đảm bảo tối thiểu hoá giá thành san phẩm (chi phí sản xuất cộng với chi phí vận tải). Lý thuyết này tao nền tang cho việc ứng dụng phương pháp chỉ phí so sánh để xây dựng các luận chứng tổ chức không SVTH: PHAN ĐỨC THÁI 10 gian công nghiệp.
Theo nhận định của tác giả W. Isard, cả lý thuyết và phương pháp nói trên hiện vẫn còn ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp, kể cả công nghiệp kĩ thuật cao và dịch vụ thương mại. th ví Do tác giả O'Kelly (1989) và Smith (1995) đưa ra, theo đó trường phái hành vi dua vào “tinh hợp lý có giới han” và "cách tiếp cận hệ thống” để xác định vị trí phân bố công nghiệp. Tinh hợp lý có giới hạn có nghĩa là các công ty thường không tim đến những vị trí phân bố tối ưu thật sư do bị giới hạn bởi một số yếu tố có tính chủ quan.
Những yếu tố đó phát sinh từ chính người ra quyết định, hoặc tổ chức mà người ra quyết định chịu ảnh hưởng. Như vậy, khả năng chọn địa điểm đầu tư sẽ phụ thuôc vào cơ cấu tổ chức của công ty và các mục tiêu phát triển của đơn vị. Cách tiếp cận hệ thống nhằm nghiên cứu những đối tượng trên đây và mối liên hệ giữa chúng để tìm ra lời giải về địa điểm phân bố, cụ thể: - Phân tích cơ cấu của đơn vị có nhu cẩu lựa chon địa điểm đầu tư và tạo những liên kết. - Mô hình hoá kiểu tăng trưởng và liên hệ với thực trạng của đơn vi.
- Phân tích những tác động từ môi trường bên ngoài đối với chiến lược phát triển của đơn vị. Lý thuyết này có ưu điểm nổi bật là cân nhắc đến ảnh hưởng của những thay đổi trong mồi trường kinh tế bên ngoài đối với hành vi của người quyết định điểm đầu tư. Tuy nhiên, quan điểm hành vi quá để cao vai trò quản trị của cá nhân, đôi khi lai bỏ qua những cơ sở khách quan cẩn thiết có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả lựa chon vị trí phân bố của đơn vị. SVTH: PHAN ĐỨC THÁI il 1.
Những lý thuyết có liên quan đến phân công và hợp tác giữa các ngành công nghiệp Nhiều tác giả rất chú trọng đến công nghệ sản xuất của ngành công nghiệp. đặc biệt là tính liên hệ sản xuất thường xuyên giữa các ngành, tính liên tục giữa các khâu trong quá trình sản xuất, từ đó có những giải pháp phân bố các ngành công nghiệp cho phù hợp với nguồn lực của từng vùng. Sau đây là một số quan điểm được trình bày một cách tổng hợp: Quan điểm này do tác giả N. Koloxopxki (9/1947) để xướng và được nhiều nhà kinh tế Nga ủng hộ vào những năm 60-70.
Xuất phát từ đặc điểm công nghệ sản xuất của các ngành công nghiệp, nhằm đảm bảo mục tiêu hiệu quả kinh tế gắn liền với sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tận dụng phế phụ phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các tác giả đã làm rd những liên hệ sản xuất giữa các ngành khác nhau trên cơ sở sử dụng một loại tài nguyên nhất định. Chu trình động lực - sản xuất là tập hợp các quá trình sản xuất có liên quan với nhau, trong đó có nhiều quá trình sản xuất phụ xoay quanh một quá trình sản xuất chính; dựa trên cơ sở chế biến tổng hợp một loại nguyên liệu chủ yếu. Như vậy, khi phân bố các xí nghiệp gan nhau phải theo những quy định chặt chẽ chứ không thể tuỳ tiện. Đó là những xí nghiệp có liên hệ mật thiết với nhau về sản xuất, có tác động mạnh mẽ đối với nhau chứ không chỉ đơn giản là cùng tốn tại trong một phạm vi không gian nào đó.
Mat khác, sự tổn tại của xí nghiệp trong chu trình cũng phải phù hợp với cơ cấu nguồn lực vùng. Trong các tài liệu về tổ chức không gian công nghiệp ở Mỹ, Anh, khái niệm liên hợp công nghiệp (industrial complex) đồng nghĩa với khái niệm chu trình động SVTH: PHAN ĐỨC THÁI 12 lực- sản xuất. Theo tác giả W Isard: “ưước kia liên hợp công nghiệp được hiểu là tập hợp các hoạt động tổn tại trong một vị trí phân bố nhất định (tức trong một xí nghiệp, gọi là xí nghiệp liên hợp), bao gồm một loạt các ngành có quan hệ qua lại với nhau về sản xuất, tiếp thị cùng với những quan hệ liên vùng khác; hiện nay, người ta không còn quan niệm cứng nhắc rằng liên hợp công nghiệp là tập hợp các hoạt động xí nghiệp, nhưng nếu các hoạt động không cùng một xí nghiệp mà cùng một liên hợp thì ít nhất cũng phải bố trí liền kể nhau theo không gian ". Quan hệ giữa các đơn vị sản xuất trong tổ chức liên hợp có thể là chế biến tuần tự, hoặc chế biến déng thời một nguyên vật liệu ban đầu, hay một số ngành tập trung chế biến các phế phụ phẩm cho quá trình sản xuất chính.