CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Các công trình trên thế giới Các học thuyết về quản lý thuế kinh điển của các nhà kinh tế như Adam Smith, John Maynard Keynes, Paul Samuelson, Arthur Laffer xem xét quản lý thuế trong mối quan hệ với các vấn đề mang tính quyền lực nhà nước, tạo sự công bằng và thuận tiện cho NNT. Adam Smith được coi là một trong những người đặt nền móng cho các lý thuyết về quản lý thuế.
Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc sự giàu có của các dân tộc” xuất bản năm 1776, Adam Smith cho rằng, để thu được tiền thuế, nhà nước không chỉ sử dụng quyền lực cưỡng chế để bắt buộc người dân nộp thuế nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động liên tục của bộ máy nhà nước, mà quan trọng phải xây dựng mức thuế hợp lý, tạo thuận lợi trong thu nộp thuế, hạn chế tình trạng tham nhũng trong quản lý thuế. Mặc dù, Adam Smith tập trung giải thích tính quyền lực nhà nước trong việc thu thuế, nhưng ông vẫn coi trọng tính công bằng, thuận tiện và hiệu quả trong quản lý thuế [125]. Khi đề cập đến nội dung về tính công bằng khi đánh thuế TNCN, John Maynard Keynes cho rằng cần đánh thuế TNCN đối với người có thu nhập cao theo biểu thuế lũy tiến để đạt “cầu hiệu quả” và cũng đề xuất cần thực thi chính sách thuế để thu hút phần tiết kiệm của người dân để đưa vào đầu tư phát triển kinh doanh [36, tr. Trong khi, học thuyết Trọng cung không cho rằng hiệu quả thu thuế phụ thuộc vào mức thuế cao hay thấp.
Đại diện cho trường phái này nhà kinh tế học Arthur Laffer đã đưa ra đường cong lý thuyết phản ánh sự phụ thuộc giữa thuế suất và tổng số thuế thu được, gọi là đường cong Laffer. Arthur Laffer đã chứng minh rằng mức thuế suất được xác định hợp lý thì tổng số thu thuế là lớn nhất, từ đó đề 12 nghị cắt giảm mức lũy tiến của thuế TNCN, giảm thuế TNDN trên cơ sở tăng cơ sở thuế và tăng số thuế nộp cho nhà nước [36, tr. Trên cơ sở các học thuyết quản lý thuế và thực tiễn quản lý thuế tại các quốc gia, các nghiên cứu sau này tập trung vào vấn đề cải cách chính sách thuế, cụ thể: - Nghiên cứu của Chandler và Wide năm 1991 đã phân tích các khía cạnh tham nhũng trong quản lý thuế và chứng minh rằng khi một số đối tượng nộp thuế sẵn sàng chi tiền hối lộ cho cán bộ thuế thì hầu như cán bộ thuế không có khả năng từ bỏ món lợi này. Thậm chí, cán bộ thuế có thể ghi tăng mức tỷ lệ tiền phạt hoặc áp dụng mức phạt giảm hơn.
Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả chỉ ra rằng một cơ quan quản lý thuế chuyên nghiệp là cơ quan có khả năng loại bỏ hoàn toàn con người đi kiểm tra thuế và đề nghị cần tăng số lượng đối tượng chịu sự kiểm tra hàng năm [80]; - Nghiên cứu của Bird và Jantscher năm 1992 đã hệ thống các quy định thủ tục hành chính của các quốc gia trên thế giới và dẫn chứng kết quả cải cách thuế ở một số quốc gia như Bolivia, Uruguay, Colombia,. [69]; - Nghiên cứu của Brys và Heady năm 2006 đã tổng kết những xu hướng cải cách thuế TNCN tại các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, từ đó đề xuất hệ thống thuế cân bằng [77]; - Nghiên cứu của Silvani và Baer năm 1997 đã chỉ ra 10 nguyên tắc cần khi thực hiện cải cách quản lý thuế: (1) cam kết chính trị, (2) khuyến khích tuân thủ tự nguyện, (3) đơn giản hóa hệ thống thuế, (4) chiến lược rõ ràng, (5) sẵn sàng thay đổi, (6) đảm bảo hiệu quả, (7) phân nhóm NNT theo quy mô, (8) có cách tiếp cận tích hợp để thu thuế, (9) thời gian thu thuế cụ thể, (10) thực hiện thí điểm [124]; Các nghiên cứu về quản lý thuế giai đoạn này hầu hết đứng trên quan điểm của Nhà nước, đều cho rằng nghĩa vụ thuế của NNT là đương nhiên. Do đó, Nhà nước sẽ thông qua các biện pháp tuyên truyền để NNT thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Nếu NNT không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sẽ bị xử phạt.
Tuy 13 nhiên, Braithwaite năm 1985 viết tác phẩm “Trừng phạt hay thuyết phục người nộp thuế” [74], tiếp đó năm 2001 Braithwaite và Braithwaite giới thiệu mô hình quản lý tuân thủ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế [75]. Các tác phẩm này đã đưa đến sự tranh luận trong giới nghiên cứu cũng như việc quản lý thuế trong thực tiễn. Nhiều học giả nghiên cứu về quản lý thuế không cho rằng nghĩa vụ thuế của NNT với Nhà nước là đương nhiên. Để giải thích cho vấn đề này, các học giả đã đi sâu nghiên cứu hành vi của NNT tại nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó xây dựng những luận điểm quan trọng cho việc quản lý thuế theo lý thuyết hành vi tuân thủ.
Đây là lý thuyết đứng trên góc nhìn của NNT. Một NNT có lý trí sẽ đánh giá chi phí và lợi ích của trốn thuế. Nếu lợi ích kỳ vọng lớn hơn chi phí thì NNT sẽ trốn thuế. NNT sẽ đưa ra quyết định lý trí khi xem xét các lựa chọn liên quan đến thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Biện pháp răn đe của cơ quan thuế là công cụ hữu hiệu để quản lý thuế vì gia tăng khả năng NNT bị phạt sẽ làm tăng chi phí của họ khi trốn thuế. Tuy nhiên, các tác giả cho rằng, gia tăng mức chế tài thường là một quá trình tốn kém cho công tác quản lý thuế và cũng không có gì đảm bảo sẽ cải thiện được tính tuân thủ của NNT [58], [67]. Các nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế tại các nước có thể chia thành 2 nhóm: nhóm 1 là các quốc gia có nền kinh tế phát triển và nhóm 2 là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển. Các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Áo, Úc, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Đức, Hungary, Ý, New Zealand, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Anh và Mỹ (xem thêm Phụ lục 1).
Nhóm các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Argentina, Trung Quốc, Chi Lê, Ethiopia, Ghana, Ấn Độ, Iran, Macedonia, Malaysia, Pakistan, Ba Lan, Romania, Nga, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ, Yemen, Zimbabwe,. Các nghiên cứu đã chỉ ra có 15 nhân tố được phân thành 6 cơ chế tác động đến hành vi tuân thủ thuế TNCN của NNT, cụ thể: 14 (1) Nhóm các nhân tố nhân chủng học (độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và tình trạng nghề nghiệp): Nghiên cứu của Torgler năm 2007 cho rằng các nhân tố nhân chủng học có thể ảnh hưởng tới NNT khi tuân thủ luật thuế [133]. Ông giải thích các nhân tố nhân chủng học có thể tác động đến thái độ của NNT, cuối cùng là dẫn tới hành vi tuân thủ thuế của họ. Nhân tố độ tuổi: Các nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy mối quan hệ dương giữa độ tuổi và thái độ về thuế của NNT.
Nhóm NNT có độ tuổi lớn hơn được tìm thấy là sẵn sàng tuân thủ luật thuế hơn nhóm NNT có độ tuổi thấp hơn ở các nước phát triển, như nghiên cứu tại Úc của Devos năm 2008 [84], Torgler và Murphy năm 2004 [136], nghiên cứu tại Canada của Torgler năm 2003 [129], nghiên cứu tại New Zealand của Marriott năm 2017 [104], nghiên cứu tại Tây Ban Nha của Alm và Gomez năm 2008 [61]. Trong khi đó, các nghiên cứu về tác động của nhân tố độ tuổi tới thái độ tuân thủ thuế của NNT lại đưa ra những kết quả khá mâu thuẫn nhau. Ví dụ, các nghiên cứu của Torgler và cộng sự vào các năm 2003 [129], năm 2004 [130] và năm 2012 [135] và nghiên cứu của Ristovska và cộng sự năm 2013 [122] tìm thấy mối quan hệ dương của nhóm NNT có độ tuổi lớn với thái độ tuân thủ thuế. Nhưng các nghiên cứu của Ho và cộng sự năm 2013 [95], McGee năm 2014 [108] lại không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa độ tuổi và thái độ tuân thủ thuế của NNT tại các nước đang phát triển.
Giải thích cho các kết quả mâu thuẫn này, có học giả trên thế giới cho rằng độ tuổi không phải là một yếu tố tác động đối với tất cả NNT. Ví dụ, Torgler năm 2007 thì lý giải rằng có lẽ là tại các nước đang phát triển rất nhiều người trẻ và người lớn tuổi không phải là đối tượng nộp thuế TNCN và do đó họ có thái độ tích cực về việc tuân thủ thuế TNCN [133]. Một số học giả khác thì cho rằng có thể độ tuổi không phải là biến nghiên cứu chính trong hầu hết các nghiên cứu liên quan đến thái độ và hành vi tuân thủ thuế của NNT. Cũng có 15 giải thích cho rằng những người có độ tuổi lớn thì là những NNT ít muốn rủi ro hơn, và do đó họ sẽ sẵn sàng tuân thủ luật thuế TNCN hơn.
Nhân tố giới tính: Hầu hết các nghiên cứu tại các nước phát triển đều đưa ra kết luận là giới tính nữ có mối quan hệ dương với thái độ tuân thủ thuế TNCN, cụ thể: nghiên cứu tại Úc của Devos năm 2008 [84], nghiên cứu tại Canada của Torgler năm 2003 [129], nghiên cứu tại Estonia của McGee và cộng sự năm 2008 [114], nghiên cứu tại Mỹ của McGee và cộng sự năm 2008 [111]. Các nghiên cứu khác tại New Zealand, Hà Lan và Ý cũng cho kết quả tương tự. Tuy nhiên, các nghiên cứu tại các nước đang phát triển thì nhân tố giới tính tác động đến thái độ tuân thủ thuế TNCN lại có nhiều kết quả trái ngược nhau. Một số nghiên cứu tại Malaysia của Kasipillai và Abdual-Jabbar năm 2006 [101], nghiên cứu tại Pakistan của Cyan và Martinez-Vazquez năm 2016 [81], nghiên cứu tại Nga của Alm và cộng sự năm 2006 [62] kết luận là phụ nữ có tính tuân thủ hơn nam giới.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu tại Romania của McGree năm 2006 [106] và nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ của McGee và Benk năm 2011 [109] lại tìm ra mối quan hệ âm giữa giới tính và thái độ tuân thủ thuế TNCN. Nhưng đa số các nghiên cứu tại nhiều quốc gia đang phát triển như Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Macedonia, Balan, … lại không tìm thấy sự khác biệt gì giữa giới tính nam hay giới tính nữ của NNT có liên quan tới thái độ tuân thủ thuế TNCN của NNT.