CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ TMQT CỦA CÁC NHTM 1.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.1 Khái niệm về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế. Ngày nay, dưới sự hợp tác phát triển và hội nhập kinh tế sâu rộng, hoạt động mua bán và cung ứng dịch vụ quốc tế ngày càng trở nên phổ biến hơn. Bên cạnh những lợi ích như gia tăng nguồn ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho ngân sách nhà nước thì hoạt động thương mại quốc tế còn tiềm tàng nhiều rủi ro. Vì vậy, các doanh nghiệp XNK cần các nguồn tài trợ có khả năng tài chính và có mức độ tín nhiệm cao.
Các nguồn tài trợ này có thể đến từ Chính phủ, các tổ chức tín dụng, các tổ chức và cá nhân. Trong đó, các tổ chức tín dụng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tài trợ thương mại quốc tế, đặc biệt là sự góp mặt của các ngân hàng thương mại. Vậy tài trợ thương mại quốc tế là gì? Thực chất đó là các nghiệp vụ nhằm mục đích giúp giảm thiểu các rủi ro, sử dụng các nguồn tài chính và uy tín để tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu. Tài trợ thương mai quốc tế đảm bảo cho việc hàng hóa được lưu thông bằng biện pháp khắc phục tình trạng thiếu hụt thông tin giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu, cho phép họ tin tưởng vào một hệ thống, nơi mà người bán được thanh toán theo những điều kiện quy định và người mua được nhận hàng hóa mà họ đã chi trả.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp có mục tiêu gia nhập vào thị trường quốc tế thì tài trợ TMQT là biện pháp tối ưu nhất cho sự phát triển kết hợp với các ưu đãi dành cho các doanh nghiệp XNK. Trong giáo trình “Tài trợ thương mại quốc tế” của TS. Nguyễn Thị Hồng Hải và TS. Đoàn Ngọc Thắng (NXB Lao động, 2022) cũng đưa ra khái niệm tổng thể về hoạt động tài trợ thương mại quốc tế như sau: “Tài trợ thương mại quốc tế là hiện tượng kinh tế khách quan, gồm tập hợp các chính sách, biện pháp và hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế trong một hoặc một số hay toàn bộ các công đoạn trong chuỗi cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường quốc tế nhằm mục đích sinh lời”.
Từ định nghĩa trên, ta có thể khái quát được 1 số ý chính về hoạt động tài trợ TMQT: 7 Tài trợ thương mại quốc tế được thực hiện dưới 2 hình thức: Tài trợ trực tiếp và tài trợ gián tiếp. Tài trợ trực tiếp là sử dụng các biện pháp hỗ trợ về tài chính trực tiếp cho các doanh nghiệp XNK như cho khách hàng vay để mua sắm các nguyên vật liệu, tài sản cố định, … phục vụ cho quá trình sản xuất hàng hóa hoặc các dịch vụ khác như thanh toán quốc tế (Nhờ thu, thanh toán L/C), bao thanh toán (Factoring), bao thanh toán tuyệt đối (Forfaiting), … Tài trợ thương mại gián tiếp là các biện pháp nhằm tạo ra thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh bao gồm các chính sách về tỷ giá hối đoái, lãi suất, các biện pháp pháp lý điều chỉnh, tạo điều kiện ổn định về tình hình kinh tế - chính trị cho hoạt động giao thương, … Ngoài ra, nó còn bao gồm cả hình thức bảo lãnh nhận hàng khi ngân hàng đứng ra để bảo đảm cho doanh nghiệp XNK bằng uy tín của mình. Qua các khái niệm và phân tích ở trên, có thể thấy hoạt động tài trợ thương mại được hiểu theo nghĩa rất rộng, nó không chỉ diễn ra một chiều, chỉ nhận hoặc đi tài trợ mà đây là hoạt động “có qua có lại”, diễn ra ở cả hai chiều. Bởi vậy trong bài khóa luận này chỉ tập trung làm rõ đến hai đối tượng chính là các doanh nghiệp XNK nhận được tài trợ từ các ngân hàng thương mại, từ đó thấy được bản chất của tài trợ TMQT của ngân hàng cũng như các yêu cầu và điều kiện cần có của doanh nghiệp XNK có thể đáp ứng để NHTM chấp nhận tài trợ.2 Đặc điểm của tài trợ thương mại quốc tế Từ những khái quát về định nghĩa tài trợ TMQT, ta có thể rút ra được các đặc điểm như sau: Về mục đích: Đây là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm các hoạt động như mua bán hàng hóa (tiền mặt, bộ chứng từ, L/C, …), cung cấp các dịch vụ ngân hàng (cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, …), xúc tiến thương mại dựa vào nguồn lực tài chính và uy tín của ngân hàng.
Về phạm vi: Theo đúng như tên gọi, yếu tố “quốc tế” làm nên sự khác biệt giữa tài trợ thương mại nội địa và tài trợ thương mại quốc tế. Tài trợ TMQT sử dụng đến nghiệp vụ thanh toán quốc tế như trao đổi với các ngân hàng nước ngoài, mua bán và giảm thiểu rủi ro về tỷ giá. Đây cũng là điểm khác biệt đối với các hoạt động tài trợ nội địa. 8 Về đối tượng: Trong hoạt động này, đối tượng chủ yếu mà ngân hàng hướng tới là các doanh nghiệp XNK, các doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài như công ty đa quốc gia, các công ty vận chuyển quốc tế và logistic, ….
Tựu chung lại, đó đều là các công ty có hoạt động kinh doanh trao đổi mua bán giữa các nước với nhau và việc thanh toán có sử dụng ngoại tệ. Việc các ngân hàng thương mai có sẵn sàng tài trợ cho các doanh nghiệp XNK hay không phải dựa trên các cơ sở quan trọng như hợp đồng XNK, giấy phép kinh doanh cũng như lịch sử giao dịch của doanh nghiệp. Về quy trình: Tùy thuộc vào quy mô giá trị sản phẩm hay tính chất kinh doanh mà tài trợ TMQT có thể tài trợ. Đó có thể là tài trợ toàn bộ công đoạn của quy trình sản xuất hoặc có thể chỉ là một hoặc một số công đoạn bất kì nào đó trong quy trình cung ứng hàng hóa.
Về thời hạn: Chủ yếu là trong ngắn hạn (1 – 3 tháng) và trung hạn (3 – 6 tháng), trong dài hạn thì khá hạn chế. Điều này còn tùy thuộc vào phương thức, mục đích, uy tín của chủ thể tài trợ mà có những khoảng thời gian tài trợ khác nhau cho mỗi doanh nghiệp, tổ chức. Ví dụ, đối với các doanh nghiệp gia công hoặc nhập khẩu hàng hóa thường chỉ yêu cầu tài trợ một khâu trong quy trình, vì vậy thời hạn tài trợ các doanh nghiệp này ngắn hơn so với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, muốn nhận tài trợ nhiều hơn và lâu hơn để đầu tư máy móc, trang thiết bị phục vụ sản xuất. Về yêu cầu đối với các doanh nghiệp tham gia tài trợ TMQT: Điều kiện tiên quyết mà các ngân hàng yêu cầu các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động tài trợ thương mại quốc tế là phải có tài sản đảm bảo.
Đó có thể là bất động sản, phương tiện sản xuất, nhà xưởng, các giấy tờ có giá, … hay thường thấy nhất là các doanh nghiệp sử dụng chính bộ chứng từ hoặc hàng hóa của mình để làm tài sản đảm bảo. Với những tài sản này, ngân hàng có thể phần nào đó phòng tránh rủi ro cho mình cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp XNK có nguồn vốn hạn chế vẫn có khả năng được mua bán hàng hóa, giao thương quốc tế. Về cơ sở pháp lý: Do đây là hoạt động có yếu tố quốc tế, nên so với tài trợ thương mại nội địa, nó không chỉ tuân theo các yêu cầu, quy định của pháp luật Việt Nam mà còn phải tuân theo các luật lệ, quy tắc, các điều ước, công ước và tập quán quốc tế để phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra. Các văn bản quan trọng thường được 9 sử dụng trong tài trợ TMQT mà các chủ thể tham gia cần lưu ý như UCP 600, URC 522, ISBP 745, các phiên bản Incoterms 2010, 2020, … Về đồng tiền thanh toán: Tài trợ TMQT là hoạt động phát sinh quan hệ tín dụng giữa các bên tham gia, thường là việc trao đổi ngoại tệ thông qua hoạt động mua bán quốc tế.
Việc giao dịch với các nước không sử dụng các đồng tiền chung thì phải các bên phải trao đổi, thông nhất để sử dụng đồng tiền thanh toán nào cho hợp lý. Các đồng tiền mạnh, có tính ổn định và khả năng chuyển đổi cao như USD, EUR, JPY, CNY đang là những lựa chọn hàng đầu trong hoạt động giao dịch tài trợ TMQT.3 Các hình thức của hoạt động tài trợ thương mại quốc tế 1.1 Tài trợ trên cơ sở hợp đồng xuất nhập khẩu Như tên gọi, đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt hình thức này với các hình thức tài trợ khác là dựa vào hợp đồng XNK. Vì vậy bất kì hoạt động nào của ngân hàng liên quan đến hợp đồng XNK mà phát sinh quan hệ tín dụng thì được gọi là tài trợ XNK. Khi hợp đồng XNK được ký kết, các bên tham gia sẽ tiến hành thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình được quy định trong hợp đồng.
Theo đó, nhà xuất khẩu chuẩn bị các khâu về nguyên vật liệu, trang thiết bị để sản xuất, thu mua hàng hóa xuất khẩu. Ngược lại, người nhập khẩu tiến hành các thủ tục như chuyển tiền, nhờ thu, ứng tiền hoặc mở L/C. Đây cũng là lúc các ngân hàng thương mại có tiền đề để tham gia tài trợ. Đối với nhà xuất khẩu: Hình thức tài trợ đối với nhà xuất khẩu còn được hiểu là các ngân hàng thương mại đang cho các doanh nghiệp XK này vay vốn.
Đầu tiên, khi các doanh nghiệp XK cần mang trong bộ hồ sơ vay vốn cần có hợp đồng XNK. Nếu hợp đồng này được các bộ phận nghiệp vụ của ngân hàng kiểm tra tính chặt chẽ, cả hai bên tham gia đều uy tín, mặt hàng tốt, không vi phạm các lệnh cấm vận hay gian lận thương mại, các phương thức an toàn, ít rủi ro như L/C hay nhờ thu, … thì sẽ được ngân hàng cấp các khoản vay có độ an toàn cao, ưu đãi. Vì khi khoản vay được đánh giá đủ yêu cầu đặt ra, nó sẽ được xem là khoản vay tự giải. Các ngân hàng cũng thường có những lộ trình ưu tiên về lãi suất rất cụ thể và rõ ràng để hỗ trợ các doanh nghiệp XNK, đặc biệt là khi không phải doanh nghiệp nào cũng đủ nguồn vốn để sản xuất lô hàng xuất khẩu.