Chương 1 GIỚI THIỆU LUẬN ÁN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ kinh nghiệm quốc tế và tại Việt Nam, tài chính vi mô được đánh giá đã có những đóng góp hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Với các hoạt động đặc trưng, các tổ chức tín dụng đã và đang chứng tỏ được vị trí huyết mạch trong nền kinh tế. Đặc biệt, với hoạt động tài chính vi mô, tổ chức tín dụng Việt Nam đã góp phần đáng kể vào thành công của công cuộc xóa đói, giảm nghèo, cũng như chủ trương phát triển “Tam nông” của Chính phủ.
Cùng với sự phát triển của hệ thống tài chính từ sau đổi mới, các tổ chức tín dụng Việt Nam trở nên đa dạng về mô hình hoạt động. Ngoài việc cung cấp dịch vụ tài chính thông thường, các tổ chức tín dụng còn phát triển thêm các dịch vụ tài chính vi mô nhằm tiếp cận các hộ nghèo, thu nhập nhấp, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Tài chính vi mô là một trong những loại hình tài chính đặc trưng cho các quốc gia đang phát triển, tập trung vào mục tiêu giảm nghèo và phát triển bền vững. Cách tiếp cận tài chính vi mô khác biệt so với tài chính thông thường và nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà tài trợ, các nhà làm chính sách ở nhiều nước trên thế giới.
Tại Việt Nam, tài chính vi mô đã có những sự phát triển trong thời gian qua, cả về khung pháp lý và hoạt động cơ bản. Tuy vậy, sự tham gia của các tổ chức tín dụng chính thức trong khu vực này còn chưa nhiều, ngoài các tổ chức tín dụng như Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Hợp tác xã và Hệ thống Quỹ tín dụng nhân cơ sở cùng ba tổ chức tài chính vi mô mới được chuyển đổi thì chỉ có một số ít ngân hàng thương mại cung cấp tài chính vi mô. Hoạt động tài chính vi mô tại tổ chức tín dụng Việt Nam được đánh giá là hạn hẹp về lượng và thấp kém về chất. Hệ quả tất yếu là nhiều khách hàng vi mô không tiếp cận được dịch vụ tài chính, các tổ chức tín dụng khó cải thiện được thu nhập khi môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh gay gắt.
Hướng tới mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững, phát triển hoạt động tài chính vi mô tại tổ chức tín dụng là một đòi hỏi tất yếu đối với hệ thống tài chính Việt Nam. Đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội để chính các TCTD trường tồn. Do vậy, nghiên cứu“Phát triển hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chức tín dụng Việt Nam” là thực sự cấp thiết. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Tài chính vi mô được biết đến từ những năm 1970 và đến những năm 1980 thì đã có sự phát triển mang tính bước ngoặt bởi sự ra đời của Ngân hàng Grameen tại Banglades.
Đến những năm 1990, các tổ chức tín dụng bắt đầu tham gia cung cấp tài chính vi mô. Cho đến nay hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chức tín dụng đã phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu (Robinson, 2001) và đã có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển hoạt động tài chính vi mô. Quan niệm phát triển hoạt động tài chính vi mô của các tổ chức cung cấp tài chính vi mô Có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển hoạt động tài chính vi mô của TCTD. Cụ thể, có quan điểm cho rằng sự phát triển hoạt động tài chính vi mô của TCTD được thể hiện qua sự bền vững tài chính (Schreiner, 1996; Yaron và các cộng sự, 1998; Luzzi và Weber, 2006).
Nhưng có quan điểm cho rằng sự phát triển hoạt động tài chính vi mô tại tổ chức tín dụng được thể hiện qua quy mô hoạt động tài chính vi mô chiếm tỷ trọng lớn ở mức nhất định trong các hoạt động của TCTD, hoặc sự đa dạng về sản phẩm TCVM cung cấp, hoặc số lượng (tỷ trọng) khách hàng vay món nhỏ (CGAP, 1995; Yunus, 2005). Tổng hợp hai quan điểm trên, Littlefield và các cộng sự (2003) cho rằng sự phát triển hoạt động tài chính vi mô của TCTD cần được hiểu hay thống nhất trên cơ sở khả năng tiếp cận đối tượng khách hàng và sự phát triển bền vững về tài chính của TCTD. Zeller và Meyer (2002) bổ sung thêm sự phát triển hoạt động tài chính vi mô của các tổ chức tín dụng cần dựa trên 03 mục tiêu: (1) tiếp cận với đối tượng khách hàng tài chính vi mô, (2) bền vững tài chính, (3) ảnh hưởng của hoạt động (mục tiêu xã hội). Tiêu chí đánh giá sự phát triển hoạt động tài chính vi mô Theo Schreiner (1996), một tổ chức tài chính vi mô bền vững có nghĩa là một tổ chức TCVM có hiệu quả về tài chính và giữ vững được sứ mệnh hoạt động của mình vì người nghèo.
Theo CGAP (1997), Yaron và Benjamin (1997), một nền tảng đánh giá phát triển hoạt động được đưa ra bao gồm 2 tiêu chí: Mức độ tiếp cận đạt được trong nhóm khách hàng mục tiêu và khả năng tự bền vững của tổ chức. Nguyễn Đức Hải (2012) đã đúc kết “Phát triển tài chính vi mô là sự tăng lên về 3 số lượng và chất lượng, bao gồm việc mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng trong các sản phẩm dịch vụ cung cấp, trang trải được các khoản chi phí, bền vững về hoạt động tài chính, đóng góp ngày càng lớn trong các hoạt động xã hội và đóng góp cho công cuộc xóa đói, giảm nghèo”, tổng kết được các tiêu thức đánh giá sự phát triển tài chính vi mô từ bộ chỉ số CAMELS và PEARLS và tựu chung lại tác giả đề xuất phân chia thành sáu nhóm: (i) Nhóm chỉ số về chất lượng dư nợ, (ii) Nhóm chỉ số về hiệu suất hoạt động, (iii) Nhóm chỉ số về hiệu quả hoạt động và tính bền vững, (iii) Nhóm chỉ tiêu sinh lời, (iv) Nhóm chỉ tiêu về mức độ tiếp cận, (v) Nhóm chỉ số xã hội. Nghiên cứu này cũng đã thực hiện phân tích thực trạng phát triển tài chính vi mô ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào TCVM và hoạt động của các tổ chức TCVM bán chính thức, chưa nghiên cứu đến đối tượng là tổ chức tín dụng Việt Nam thuộc khu vực chính thức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô như các ngân hàng thương mại. Phát triển hoạt động tài chính vi mô tại các tổ chức tín dụng Đào Văn Hùng (2005) đã khái quát các quan điểm khác nhau và kinh nghiệm hoạt động tài chính vi mô trên thế giới, đồng thời khái quát bức tranh toàn cảnh về tài chính vi mô ở Việt Nam, trong nghiên cứu này tác giả đã phân tích và đánh giá hoạt động tài chính vi mô tại một số tổ chức tín dụng Việt Nam: Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội và hệ thống QTDND.
Với phương pháp nghiên cứu thống kê và so sánh, tác giả đánh giá mức độ tiếp cận, phân tích hạn chế tiếp cận và nguyên nhân hạn chế của các TCTD này giai đoạn 1999 - 2003. Các TCTD này đều tăng mức độ tiếp cận cả về độ sâu tiếp cận và độ rộng tiếp cận, dẫn đầu là Ngân hàng Chính sách xã hội, tuy nhiên mức tăng trưởng số lượng khách hàng và mức tăng trưởng quy mô dư nợ TCVM thì Agribank có mức tăng cao nhất (Số tuyệt đối lẫn tương đối). Theo Nghiêm Hồng Sơn (2006), các ngân hàng thương mại (NHTM) thường phát triển đa dạng hóa hoạt động theo mục tiêu bền vững hơn là tăng mức độ tiếp cận đối với khách hàng và điểm xuất phát của họ trong thời kỳ đầu (thời kỳ non trẻ) về tính bền vững ở mức cao nhất so với các loại TCTD khác. Mục tiêu đầu tiên của các NHTM phải là bền vững về tài chính; trong khi đó, các tổ chức tài chính nông thôn quy mô nhỏ và các NGOs ngay từ khi thành lập đã đặt mục tiêu quan trọng nhất là tiếp cận rộng và sâu đối với khách hàng.
Mặc dù mức độ tiếp cận của cácNGOs cao hơn so với các tổ chức tài chính nông thôn quy mô nhỏ, tính bền vững của các tổ chức này nhiều khi lại là một dấu hỏi lớn. Trong thời kỳ trưởng thành, các tổ chức tài chính nông thôn quy mô nhỏ phát triển theo hướng bền vững nhanh hơn so với các NGOs. Nguyễn Kim Anh và các cộng sự (2010) đã đưa ra một bức tranh chung về phát triển tài chính vi mô ở nông thôn Việt Nam ngày càng mở rộng tiếp cận cho người 4 nghèo và hoạt động hiệu quả hơn. Trong nghiên cứu này tác giả và các cộng sự đã phân tích và đánh giá hoạt động tài chính vi mô tại một số tổ chức tín dụng Việt Nam: Agribank, Ngân hàng Chính sách xã hội, QTDND TW và hệ thống QTDND cơ sở giai đoạn 2001 – 2009.
Xét trên mức độ tiếp cận, về tổng khách hàng tín dụng vi mô và độ sâu tiếp cận, NHCSXH dẫn đầu trong số các TCTD nêu trên. Tuy nhiên, số lượng sản phẩm và dịch vụ tài chính vi mô của NHCSXH còn đơn điệu. Bên cạnh mức độ tiếp cận, tác giả và các cộng sự đã đánh giá về sự bền vững của các tổ chức này, Agribank có chỉ số tự vững hoạt động và tự vững tài chính tốt nhất trong các tổ chức, tiếp đến là hệ thống QTDND, còn NHCSXH tại Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu không đạt bền vững về tài chính mặc dù có cải thiện qua các năm. Nghiên cứu kết luận, ROA và ROE của các tổ chức TCVM điển hình ở Việt Nam nhìn chung có xu hướng tăng ở các tổ chức TCVM chính thức hoặc các tổ chức TCVM có pháp nhân độc lập trong khi các chỉ số đó ở các tổ chức TCVM chưa có pháp nhân độc lập hoặc hình thành qua các dự án phi chính phủ chưa thể hiện được điều này do chưa có địa vị pháp lý nên khó khăn trong tự huy động vốn và phát triển năng lực.
Các nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh Hà (2010), Nguyễn Kim Anh và Lê Thanh Tâm(2013) đã sử dụng mô hình mức độ tiếp cận và sự bền vững để đánh giá sự phát triển của các tổ chức tài chính vi mô qua hai nhóm chỉ tiêu chính là mức độ tiếp cận và tính bền vững của tổ chức.