Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm về chiến lược Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, nguyên nhân cơ bản có sự khác nhau này là do có các hệ thống quan niệm khác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp cận khác nhau về chiến lược của tổ chức nói riêng. Theo Jonhson và Scholes, chiến lược được định nghĩa như sau: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”.
Theo định nghĩa này chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau: - Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn. - Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào và phạm vi các hoạt động. - Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiến hành tốt hơn đối thủ cạnh tranh. - Nguồn lực cần thiết tạo ra lợi thế cạnh tranh.
- Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp. Theo Micheal Porter, “chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau. Cốt lõi của chiến lược là lựa chọn cái chưa được làm”.
Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm. Bản chất của chiến lược là xây Trần Nguyên Thành Lớp QTKD1-2011B 13 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Đại học Bách Khoa Hà Nội dựng được lợi thế cạnh tranh. Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt. Phân loại chiến lược Có nhiều cách phân loại chiến lược: Nếu căn cứ vào phạm vi của chiến lược, người ta chia chiến lược thành 02 loại: Loại thứ nhất: chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát.
Chiến lược chung của tổ chức hay tổ chức thường đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của tổ chức. Loại thứ hai: chiến lược bộ phận. Đây là chiến lược cấp hai.
Thông thường trong tổ chức, loại chiến lược bộ phận này gồm: chiến lược sản phẩm; chiến lược giá cả, chiến lược phân phối và chiến lược giao tiếp và khuếch trương. Chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược hoàn chỉnh. Không thể coi là một chiến lược nếu chỉ có chiến lược chung mà không có chiến lược bộ phận được thể hiện bằng các mục tiêu và mỗi mục tiêu lại được thể hiện bằng một số chỉ tiêu nhất định. Nếu căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược thì chiến lược được chia làm 04 loại: Loại thứ nhất: Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt.
Tư tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là không dàn trải các nguồn lực, trái lại cần tập trung cho những hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động của tổ chức mình. Loại thứ hai: Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối. Tư tưởng chỉ đạo ở đây bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của tổ chức mình so với các đối thủ cạnh tranh.Thông qua sự phân tích đó, tìm ra điểm mạnh của mình làm chỗ dựa cho chiến lược. Loại thứ ba: Chiến lược sáng tạo tấn công.
Trong loại chiến lược này, việc xây dựng được tiếp cận theo cách cơ bản là luôn luôn nhìn thẳng vào những vấn đề vẫn được coi là phổ biến, khó làm khác được để đặt câu hỏi “tại sao”, nhằm xét lại Trần Nguyên Thành Lớp QTKD1-2011B 14 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Đại học Bách Khoa Hà Nội những điều tưởng như đã kết luận. Từ việc đặt liên tiếp các câu hỏi nghi ngờ sự bất biến của vấn đề có thể có được những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược của tổ chức mình. - Loại thứ tư: Chiến lược khai thác các mức độ tự do. Cách xây dựng chiến lược ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm vào - khai thác khả năng có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt.
Khái niệm về quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai. Mô hình quản trị chiến lược Phân tích môi trường Mối liên hệ ngược Xác định chức năng nhiệm vụ mục tiêu Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược Thực hiện chiến lược Đánh giá và kiểm tra thực hiện (Nguồn: Garry D. Smith và cộng sự, Chiến lược và sách lược kinh doanh ) Mô hình quản trị chiến lược được thể hiện như hình 1. Bao gồm các bước: + Phân tích môi trường; + Xác định chức năng và nhiệm vụ mục tiêu; + Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược; + Thực hiện chiến lược; + Đánh giá và kiểm tra thực hiện.
Trần Nguyên Thành Lớp QTKD1-2011B 15 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Đại học Bách Khoa Hà Nội 1. NỘI DUNG CỦA HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1. Khái niện hoạch định chiến lược Hoạch định chiến lược là một quá trình trong đó người ta phát triển một chiến lược để đạt được những mục đích cụ thể. Đầu tiên và trên hết, hoạch định chiến lược là một quá trình, có nghĩa là gồm hàng loạt bước đi mà tổ chức phải theo, cùng nhau cố gắng nhất trí sẽ đạt đến điều gì đó (tầm nhìn) và cách mà tổ chức sẽ đạt đến đó (chiến lược).
Đó là hai mục đích của hoạch định chiến lược. Những mục đích có giá trị khác gồm tăng giá trị cổ đông của tổ chức, thị phần và lợi nhuận lâu dài. Tuy nhiên, cũng còn có một mục đích khác là phát triển năng lực cốt lõi và lợi thế cạnh tranh bền vững. Kết quả là xác định mục đích hoặc những mục đích là một nội dung của hoạch định chiến lược.
Mô hình hoạch định chiến lược Hình 1. Mô hình hoạch định chiến lược Phân tích môi trường Mối liên hệ ngược Xác định chức năng nhiệm vụ mục tiêu Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược (Nguồn: Garry D. Smith và cộng sự, Chiến lược và sách lược kinh doanh ) Mô hình quản trị chiến lược được thể hiện như hình 1. Bao gồm các bước: + Phân tích môi trường; + Xác định chức năng và nhiệm vụ mục tiêu; + Phân tích và lựa chọn các phương án chiến lược; Trần Nguyên Thành Lớp QTKD1-2011B 16 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Đại học Bách Khoa Hà Nội 1.
Phân tích môi trường kinh doanh 1. Phân tích môi trường vĩ mô a. Các yếu tố kinh tế Mục đích: Nhằm tìm ra các cơ hội và nguy cơ đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức trong tình hình kinh tế hiện tại. Các yếu tố cần phân tích: Giai đoạn trong chù kỳ kinh tế; nguồn cung cấp tiến; xu hướng của GNP; tỷ lệ lạm phát; lãi xuất ngân hàng; chính sách tiền tệ; mức độ thất nghiệp; chính sách tài chính; kiểm soát giá tiền công; cán cân thanh toán.
Yếu tố chính phủ và chính trị Mục đích: Nhằm tìm ra các cơ hội và thách thức của hệ thống pháp luật đối với hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp. Các yếu tố cần phân tích như: Các quy định về cho khách hàng vay tiêu dùng, các quy định về chống độc quyền, bảo vệ môi trường, các sắc luật thuế, các chế độ đãi ngộ đặc biệt, các quy định trong lĩnh vực ngoại thương, quy định về thuê mướn và khuyến mãi, mức độ ổn định của Chính phủ. Yếu tố xã hội Mục đích: Nhận ra sự thay đổi của các yếu tố này để dự báo tác động của nó và đề ra chiến lược tương ứng. Các yếu tố xã hội cần phân tích: Quan điểm về mức sống, phong cánh sống, lao động nữ, ước vọng về sự nghiệp, tính tích cực tiêu dùng, tỷ lệ tăng dân số, dịch chuyển dân số, tỷ lệ sinh đẻ.
Yếu tố tự nhiên Mục đích: Việc nghiên cứu các yếu tố về ô nhiêm môi trường, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên để cho các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháp hoạt động hiệu quả. Các yếu tố cần phân tích: Ô nhiễm môi trường, sự thiếu hụt năng lượng, sự lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên. Yếu tố công nghệ Trần Nguyên Thành Lớp QTKD1-2011B 17 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Đại học Bách Khoa Hà Nội Mục đích: Việc nghiên cứu các yếu tố này để các Doanh nghiệp phải cảnh giác với công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm của họ bị lạc hậu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Các yếu tố cần phân tích: Chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển từ ngân sách, chi phí cho nghiên cứu và phát triển trong ngành, tiêu điểm của các nỗ lực công nghệ, sự bảo vệ bản quyền, các sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ mới, tự động hóa, sử dụng người máy.
Phân tích môi trường tác nghiệp Môi trường tác nghiệp bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với Doanh nghiệp quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó. Có 5 yếu tố cơ bản đó là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ tiềm ẩn và hàng (sản phẩm) thay thế. Mối quan hệ giữa các yếu tố này được phản ánh trên hình 1.3 Trần Nguyên Thành Lớp QTKD1-2011B 18 Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh Đại học Bách Khoa Hà Nội Hình 1.