phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên ở các trƣờng trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên ở các trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Chƣơng 3: Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở các trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự phát triển của một quốc gia. Thực tiễn đã chứng minh phần lớn các nƣớc có chỉ số HDI (chỉ số phát triển con ngƣời) cao là các nƣớc có hệ thống giáo dục vào loại tốt nhất thế giới nhƣ các nƣớc Phần Lan, Thụy Điển, Hoa Kỳ… hoặc các nƣớc có trình độ phát triển nhanh ở khu vực Châu Á nhƣ Nhật bản, Hàn Quốc, Singapore. Các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến đều có những chính sách để đào tạo và thu hút đƣợc đội ngũ giáo viên giỏi nhất.
Tại Phần Lan, nghề giáo viên đƣợc xã hội tôn trọng và có tính chọn lọc cao, mọi GV đều phải có bằng thạc sỹ. Hàn Quốc chỉ có vỏn v n 5% cử nhân giỏi nhất mới đƣợc giảng dạy ở bậc tiểu học. Singapore chọn lọc kỹ các sinh viên thi vào ngành sƣ phạm trƣớc khi đào tạo họ và chỉ tiêu tuyển sinh tƣơng đƣơng với lƣợng giáo viên thiếu trong ngành. Ngay khi đƣợc tuyển chọn, sinh viên sẽ đƣợc Bộ Giáo dục thuê và gần nhƣ chắc chắn đƣợc bảo đảm có việc làm.
Nhờ đó số ngƣời đƣợc tuyển chọn để đào tạo không nhiều nên chất lƣợng đào tạo tốt, sát với nhu cầu tuyển dụng khi tốt nghiệp. Nhật Bản, Luật Giáo dục cơ bản Quốc hội Nhật Bản ban hành và sửa đổi năm 2006) quy định: “1/ Giáo viên của các trƣờng theo quy định của pháp luật phải tự giác ngộ sâu sắc về sứ mệnh cao cả của bản thân, tích cực tu dƣỡng không ngừng để hoàn thành trách nhiệm nghề nghiệp. 2/ Đối với các giáo viên nói trên, do tầm quan trọng của trách nhiệm nghề nghiệp và sứ mệnh mà bản thân họ phải đƣợc tôn trọng, đƣợc trả lƣơng thích hợp đồng thời đƣợc bồi dƣỡng và giáo dục nghề nghiệp” [12]. Sau Chiến tranh thế giới thứ II (1945), c ng với quá trình hình thành hệ thống giáo dục mới theo mô hình Mỹ, hệ thống đào tạo GV ở Nhật Bản có sự thay đổi về cơ bản.
Những thay đổi chính thể hiện ở hai điểm sau: 1/ Chƣơng trình đào tạo GV đƣợc thiết kế gồm ba phần là giáo dục đại cƣơng, giáo dục chuyên ngành và giáo dục nghề nghiệp GV nội dung chính để cấp chứng chỉ GV). 2/ Các trƣờng sƣ phạm đƣợc tổ chức lại thành các trƣờng đại học đào tạo GV trong bốn năm và đào tạo GV có thể đƣợc tiến hành ở các trƣờng đại học khác. Những ai muốn trở thành GV phải có đƣợc chứng chỉ GV sau khi tốt nghiệp một trƣờng đại học hoặc cao đẳng. Chứng chỉ GV đƣợc cấp bởi Hội đồng 6 giáo dục tỉnh, thành, chứng chỉ GV đƣợc chia thành ba loại: Chứng chỉ hạng hai, Chứng chỉ hạng nhất, Chứng chỉ cao cấp căn cứ vào loại bằng cấp và số tín chỉ tối thiểu phải tích lũy của từng GV, điều này đã khuyến khích và tạo động lực cho ngƣời GV không ngừng n lực phấn đấu, tự bồi dƣỡng, tự đào tạo để nâng cao tay nghề GV [31].
Nhƣ vậy, các nƣớc có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đều có những chính sách đãi ngộ, ƣu tiên cho GV, đảm bảo cho GV ra trƣờng đều có việc làm ổn định, lƣơng cao; tạo mọi điều kiện thuận lợi để GV học tập bồi dƣỡng, nâng cao tay nghề; đồng thời cung cấp đầy đủ các trang thiết bị nhằm giúp GV giảng dạy đạt kết quả tốt nhất; GV đƣợc tôn trọng, có vị thế trong xã hội, có nhƣ thế mới thu hút đƣợc nguồn GV giỏi nhất tham gia công tác và cống hiến hết sức lực của họ cho nền giáo dục nƣớc nhà. Bên cạnh những chính sách đãi ngộ tốt thì trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục nhƣ: Tác giả Nadler Leonard trong cuốn “Developing Human Resource” do Hiệp hội Mỹ về Đào tạo và phát triển xuất bản năm 1980 đã nêu quan điểm phát triển nguồn nhân lực gồm 3 nhiệm vụ chính là: giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực; sử dụng nguồn nhân lực; tạo môi trƣờng nguồn nhân lực [32].A Xukhômlinxki là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học GD Liên Xô cũ) đã từng khẳng định “Một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng và phát triển ĐNGV là phải bồi dƣỡng ĐNGV, phát huy đƣợc tính sáng tạo trong lao động của họ và tạo ra khả năng ngày càng hoàn thiện tay nghề sƣ phạm, phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau và bồi dƣỡng họ trở thành những GV tốt theo tiêu chuẩn nhất định, bằng những biện pháp khác nhau” [28]. Các nhà xã hội học, giáo dục học ở nƣớc ngoài cũng có rất nhiều nghiên cứu đạt hiệu quả và tính khả thi cao để phát triển ĐNGV, phát triển giáo dục phù hợp với nhu cầu ngƣời học, với sự phát triển của các nƣớc trên thế giới trong từng giai đoạn khác nhau. Các nghiên cứu trong nước Trong thƣ gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp bắt đầu năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nêu: “Giáo dục nhằm đào tạo những ngƣời kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và Nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phƣơng phải thực sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trƣờng về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục của ta những bƣớc phát triển mới”.
7 Đảng và Chính phủ luôn xem GD là quốc sách hàng đầu, trong đó đặc biệt quan tâm, chỉ đạo phát triển ĐNGV và cán bộ quản lí để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định 3 khâu đột phá chiến lƣợc, trong đó có vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay, với nội dung cụ thể là “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, tập trung đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [9]. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ nhiệm vụ của ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam trong những năm trƣớc mắt: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD Việt Nam theo hƣớng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí GD, phát triển ĐNGV và cán bộ quản lí (CBQL) GD là khâu then chốt” [9]. Trong mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nƣớc 5 năm 2016 – 2020 tại Đại hội Đại biểu toàn quốc là thứ XII Đảng đã tiếp tục xác định: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ; phát huy vài trò quốc sách hàng đầu của giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nƣớc”. GD Việt Nam đang tích cực đổi mới từ triết lí, mục tiêu giáo dục; nội dung, chƣơng trình sách giáo khoa; đào tạo, bồi dƣỡng ĐNGV và cán bộ quản lí; công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; tăng cƣờng đầu tƣ các trang thiết bị, cơ sở vật chất, xã hội hóa giáo dục… nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, phát triển đất nƣớc.
Từ trƣớc đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lí GD nghiên cứu về khoa học giáo dục, khoa học quản lí giáo dục trong đó có nội dung phát triển ĐNGV nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong bối cảnh hiện nay: - Tác giả Phạm Minh Hạc trong “Giáo dục Việt Nam trƣớc ngƣỡng cửa thế kỉ XXI” đã khẳng định: “ĐNGV là yếu tố quyết định sự phát triển sự nghiệp GD&ĐT” và đƣa ra những chuẩn quy định đào tạo GV [17]. - Tác giả Nguyễn Sỹ Thƣ, Đinh Thị Kim Thoa trong cuốn “Phát triển năng lực giáo dục học sinh” đã đề cập đến vai trò của GV và ĐNGV trong xã hội từ xƣa đến nay, vai trò của GV trong nhà trƣờng “Giáo viên là lực lƣợng nòng cốt, quan trọng nhất, là ngƣời quyết định đến chất lƣợng giáo dục trong nhà trƣờng”. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, để nâng cao chất lƣợng giáo dục tác giả đã nêu r quan điểm: “Vấn 8 đề chất lƣợng ĐNGV và nâng cao chất lƣợng ĐNGV nhằm tăng cƣờng chất lƣợng giáo dục – đào tạo là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Khi bàn về chất lƣợng giáo dục yếu tố đầu tiên cần phải bàn tới là chất lƣợng ĐNGV cần đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu và tay nghề ngày càng đƣợc nâng cao” [29].
- Tác giả Trần Kiểm trong cuốn “Khoa học quản lí giáo dục, một số vấn đề lí luận và thực tiễn” đã nêu: Xây dựng đội ngũ bao gồm việc tuyển lựa những ngƣời có năng lực, đào tạo bồi dƣỡng các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc của họ, tạo cơ hội để họ phát triển chuyên môn [22]. - Tác giả Nguyễn Đức Trí (2002) cho rằng “nguồn nhân lực, theo quan niệm chung, mới chỉ bao hàm tiềm năng phát triển của con ngƣời. Nguồn nhân lực chỉ trở thành động lực của sự phát triển đất nƣớc khi nó đƣợc phát huy bằng cách phát triển nó (nguồn nhân lực) thông qua đào tạo, sử dụng, bồi dƣỡng, tạo hành lang pháp lý, chế độ chính sách phù hợp cho nó. Phát triển nguồn nhân lực bao gồm 3 mặt phải quản lý: Đào tạo, sử dụng và nuôi dƣỡng môi trƣờng nguồn nhân lực, chủ yếu là môi trƣờng việc làm” [30].