mở đầu cho dòng truyện Nôm ở Việt Nam, Nguyễn Thu, Ngô Cao Lãng. là những nhà nghiên cứu dày công, có nhiều tác phẩm đồ sộ về cả sử học, địa lý. Vịệc tôn trọng sự học thấm sâu trong phong tục làng quê. Những người đỗ đạt hoặc có học hành nhất định đều được tôn trọng, được làng xã xem là hạng tư văn, quan viên, đựơc những quyền lợi và những vị thứ cao, thường là trên cả chức sắc hào mục.
Những năm đất nước ta chịu sự thống trị của Thực dân Pháp,Toàn quyền Méc - lanh tuyên bố: Chỉ cung cấp cho nhân dân Việt Nam một sự giáo dục nhỏ giọt, phát triển theo chiều nằm chứ không theo chiều đứng. Ước tính trung bình 29.329 người dân mới có 1 trường. Thanh Hóa cũng phải chịu tiếp nhận chính sách ấy một cách cụ thể nhất như tình hình chung cả nước. Nhưng theo số liệu điều tra của bác sĩ Paul Chesneau năm 1983 ở một vài nơi thuộc tỉnh Thanh Hóa thì ông cho rằng giáo dục như làng quê của tỉnh này là rất ít ỏi và điển hình cho Trung kỳ [81, tr.
Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa nêu trên có thể thấy: Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là rất cao. Sự phát triển kinh tế ngày càng cao cộng với thế mạnh truyền thống hiếu học là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong việc thực hiện chính sách phát triển giáo dục của Đảng nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tuy vậy, sự đa dạng về điều kiện tự nhiên dẫn đến sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế của các vùng miền, diện tích rộng, dân số đông, nhu cầu đầu tư cho giáo dục cao trong khi ngân sách được cấp không cao hơn các tỉnh khác. Vì vậy, đây cũng là một khó khăn không nhỏ trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo thực hiện chính sách phát triển GDPT.
Thực trạng giáo dục phổ thông ở Thanh Hóa trước 1996 Kể từ Cách mạng tháng Tám 1945, nền giáo dục và đào tạo Thanh Hóa thực sự trở thành nền giáo dục do dân, vì dân. Tháng 9/1945, Thanh Hóa thành lập Ty thanh tra tiểu học, thành lập Nha Bình dân học vụ. Các quận, huyện, xã, thôn, đều lập Ban Bình dân học vụ. Đến cuối tháng 9/1945, các trường tiểu học trong toàn tỉnh đã đi vào ổn định và phát lệnh chiêu sinh trở lại để chuẩn bị cho năm học mới.
Ngày 20/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào thăm Thanh Hóa. Người đã thay mặt Chính phủ trao tặng Thanh Hóa 10 vạn đồng để làm quỹ phát triển Bình dân học vụ [8, tr. Nhờ sự quyết tâm, nỗ lực, giáo dục Thanh Hóa đã có những tiến bộ đáng kể. Xã Vĩnh Khang - Vĩnh Lộc của tỉnh dẫn đầu phong trào thanh toán nạn mù chữ toàn miền Bắc được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Hai.
Đến ngày 13/6/1957, Bác Hồ về thăm Thanh Hóa lần thứ hai. Bác nói chuyện với các đại biểu nhân dân toàn tỉnh và khen ngợi: “bước đầu là bình dân học vụ, đồng bào Thanh Hóa cố gắng có kết quả tốt, ví dụ như xã Vĩnh Khang đã xóa xong nạn mù chữ, được Chính phủ khen ngợi. Chính phủ đang chờ khen thưởng cho thị xã Thanh Hóa”. Người căn dặn: “nhưng phải cố gắng hơn nữa” và đặt “Giải thưởng thi đua của Hồ Chủ tịch dành cho Bình dân học vụ” [8, tr.
Giai đoạn 1960 - 1975, GDPT thực hiện phương châm “tận lực phát triển”. Số trường lớp tăng lên rất nhanh. Giáo dục miền 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com núi và vùng công giáo được chú ý và tạo điều kiện phát triển. Năm học 1976 - 1977, năm học đầu tiên của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thống nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chủ trương: Để góp phần đào tạo con người mới cần chú trọng thực hiện phương thức kết hợp giáo dục với lao động sản xuất và hoạt động xã hội.
Các nhà trường có ba hoạt động cơ bản: dạy và học, lao động sản xuất và tổ chức đời sống tập thể. Thanh Hóa tiếp tục thực hiện cải cách giáo dục ở tất cả các cấp học. Tuy vậy, do tâm lí chủ quan nóng vội muốn tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội nên nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội vào những năm cuối của thập kỉ 80 làm cho giáo dục cũng trì trệ theo. Giáo dục Thanh Hóa trong cục diện chung đó cũng không có bước tiến đáng kể.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI (12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới giáo dục: “giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kĩ thuật, đồng bộ về ngành nghề phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội” [30, tr. Để tạo ra nền tảng cho mục tiêu trên, Đại hội chỉ rõ yêu cầu đối với GDPT: “các trường phổ thông phải dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động kĩ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông” [30, tr. Đại hội Đảng lần thứ VII (2-1991), nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới vững chắc hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đạt hiệu quả thiết thực, mở rộng quy mô hợp lí, thật sự gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và chỉ rõ: “Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến trên thế giới”.79] Chính vì vậy mục tiêu của giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Đối với GDPT, trong giai đoạn từ 1991 đến 1995 cần phải: “Tập trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ, phát triển cấp II và cấp III phù hợp với yêu cầu và điều kiện của nền kinh tế.
Củng cố và phát triển trường phổ thông cho trẻ khuyết tật” [31, tr. Công tác đào tạo cho giáo dục miền núi cũng được Đại hội chú trọng: Tăng cường đầu tư giáo dục miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các trường dân tộc nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và tri thức người dân tộc. Quán triệt quan điểm trên, Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Khóa VII (1993) đã ban hành Nghị quyết 04 - NQ/HNTW về: “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo”.Nghị quyết đã nêu lên những thành tựu hết sức cơ bản, đồng thời chỉ rõ những yếu kém của hệ thống giáo dục. Từ đó, bổ sung những quan điểm của Đại hội VII về giáo dục đào tạo bao gồm cả GDPT: Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Đó là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước. Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo nên những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai.
Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân. Đa dạng hoá các hình thức đào tạo.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu có thể coi là một bước đột phá trong đổi mới tư duy về giáo dục của Đảng. Bước đột phá này sẽ tạo nền tảng cho những chính sách phát triển giáo dục của các điạ phương. Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo trên, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIII (1991) đã đưa ra chủ tương phát triển giáo dục cơ sở trong 5 năm 1991 - 1995: “Chú trọng giáo dục cơ sở, phát triển sự nghiệp giáo dục theo hướng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đức và tri thức gắn với yêu cầu thực tiễn cuộc sống, nâng cao dân trí, đào tạo lao động.
Phải coi trọng chất lượng đại trà, hạn chế tình trạng bỏ học ở các cấp, nhất là cấp một. Thực hiện phổ cập tiểu học ở đồng bằng và lớp 3 ở miền núi, xóa mù chữ cho những người ở độ tuổi từ 15 - 35. Quan tâm đầu tư cho sự nghiệp giáo dục miền núi, nhất là ở vùng dân tộc ít người” [41, tr. Sắp xếp lại hệ thống GDPT cho phù hợp với thực trạng nền kinh tế và yêu cầu của nhân dân,… Bồi dưỡng, đào tạo lại cán bộ quản lí, và giáo viên.
Thực hiện chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với giáo viên dạy giỏi, giáo viên công tác ở miền núi [41, tr. Tỉnh ủy và Sở giáo dục đã ban hành nhiều Nghị quyết và Chỉ thị về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương khóa VII, tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo với nội dung: Tiếp tục đổi mới cơ cấu và hệ thống giáo dục.