Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thiết bị dạy học là một trong những thành tố cơ bản hỗ trợ tối đa cho hoạt động dạy học. Yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học tất yếu kéo theo việc đổi mới cơ sở vật chất nói chung và thiết bị dạy học nói riêng, đặc biệt là hoạt động quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học, quá trình có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy và học, thể hiện cụ thể nội dung dạy học và hỗ trợ thực hiện các phương pháp dạy học tích cực.
Chính vì lý do đó, việc tìm hiểu về thiết bị dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà quản lý giáo dục trong và ngoài nước quan tâm đến trong quá trình xây dựng và đổi mới dạy học cũng như giáo dục (Nguyễn Thị Tường Vy, 2016; tr. Từ trước đến nay cũng đã có một số công trình, bài viết về hiệu quả sử dụng, ứng dụng CNTT, trang thiết bị công nghệ CNTT trong hoạt động nghiên cứu giảng dạy, điển hình như: Richard J. Noeth (2004), Evaluating the Effectiveness of Technology in Our Schools, © 2004 by ACT, Inc. All rights reserved.
Nội dung bài đánh giá hiệu quả công nghệ ở các trường học của Richard J. Noeth đã đánh giá hiệu quả sử dụng trang thiết bị CNTT trong hoạt động giáo dục với các kết luận: (i) sử dụng máy vi tính giúp người học tăng tiếp nhận các kĩ năng và kiến thức; (ii) sử dụng trang thiết bị CNTT và các công cụ dạy học truyền thống có hiệu quả giảng dạy cao hơn truyền thống; (iii) hiệu quả đối với trình bày bài giảng của giáo viên; (iv) người học yêu thích các giờ giảng hơn (Richard J. Syed Noor-Ul-Amin (2008), An Effective use of ICT for Education and Learning by Drawing on Worldwide Knowledge, Research, and Experience: ICT as a Change Agent for Education (A LITERATURE REVIEW), Department Of Education, University Of Kashmir. Nghiên cứu hiệu quả sử dụng trang thiết bị CNTT cho giáo dục và học tập bằng cách rút ra kiến thức, nghiên cứu và kinh nghiệm trên toàn thế giới.
Kết quả nghiên cứu đã làm rõ các nội dung: (i) trang thiết bị CNTT làm gia tăng quá trình 9 giảng dạy và học tập; (ii) làm tăng hiệu quả đánh giá chất lượng đào tạo; (iii) làm tăng cường môi trường học tập; (iv) làm tăng động cơ học tập; (v) làm tăng khả năng nghiên cứu (Syed Noor-Ul-Amin, 2008). Hội nghị chuyên đề các nước Châu Á - Thái Bình Dương ở New Delhi năm 1972 về TBDH khoa học cho nhà trường đã bàn về yêu cầu sư phạm và tính kinh tế, sự cần thiết của TBDH cho hoạt động dạy và học. Chủ đề hội nghị “Phát triển các phương tiện thích hợp để dạy và học” được đưa ra thảo luận giữa các nước Châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Tokyo năm 1979 đề cập đến những yêu cầu khi trang bị và sử dụng TBDH (Nguyễn Thị Tường Vy, 2016; tr. Jan Amot Komensky (1592- 1670) nhà giáo dục Cộng hoà Séc được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu và thế giới.
Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày. Theo ông, việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng. Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo, lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn” (Phan Trọng Ngọ, 2005) Về sau trường phái giáo dục Xô - Viết cũng có các nhà giáo dục như K.Pestalossi người Thụy Sĩ đã phát triển quan điểm dạy học trực quan để đạt hiệu quả cao. Nội dung của quan điểm dạy học trực quan này là thay lối dạy học cũ, kinh viện, nhồi nhét tri thức bằng lối dạy học mới có căn cứ khoa học, thông qua các sự vật hoặc hình ảnh của chúng và được học viên chứng thực trên cơ sở cảm nhận của các giác quan.
Theo nhà giáo dục học, viện sĩ Xukhômlinxki: “Nghệ thuật giáo dục là chỗ không chỉ giáo dục bằng các quan hệ giữa người với người, bằng gương sáng và lời nói của nhà giáo dục, bằng những truyền thống được trân trọng giữ gìn trong tổ chức mà còn giáo dục bằng các đồ vật, những của cải vật chất và tinh thần, giáo dục bằng môi trường và cảnh trí do chính học sinh xây dựng nên, đó là cách làm phong phú cuộc sống tâm hồn của học sinh”(Chu Mạnh Chương, 2006). Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution, ADB/ILO - Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục - đào tạo để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông. Trong đó các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: khuôn viên, cơ sở vật chất - kỹ thuật và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung. Country Report on Quality Assurance in Higher Education, 10 Bangkok - Thailand, 1998, đưa ra tỉ lệ đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số trong đó các điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung (Nguyễn Thị Bạch Ngọc, 2014; tr.
6) Đây là những quan điểm, phương pháp giáo dục của các nhà giáo dục nổi tiếng trên thế giới và đã được vận dụng đạt hiệu quả. Mục tiêu của các phương pháp này là tạo mọi điều kiện để HS tiếp thu được tri thức, trau dồi sự yêu thích trong học tập để hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ đúng đắn trong học tập. Muốn vậy, điều kiện hỗ trợ cho công tác giảng dạy phải đảm bảo trong đó thiết bị dạy học mà đặc biệt là thiết bị CNTT nhằm đáp ứng với nền tri thức công nghệ, tri thức kỹ thuật số góp phần tạo thành công cho tiết học của các em. Các nghiên cứu, phương pháp dạy - học có liên quan đến thiết bị dạy học nói chung và thiết bị CNTT nói riêng cũng như quản lý thiết bị CNTT nêu trên dùng để đánh giá chung cho các hệ thống giáo dục bao gồm nhiều cấp học trong đó có cấp THCS.
Do đó, có thể khẳng định được tầm quan trọng của thiết bị CNTT trong quá trình dạy - học ở các trường học nói chung và trường THCS nói riêng hiện nay. Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng thiết bị CNTT và quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS hiện nay theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông giai đoạn hiện nay. Từ đó xây dựng các biện pháp quản lý thiết bị CNTT nhằm gia tăng hiệu quả quản lý thiết bị CNTT ở các trường THCS theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong thời gian tới. Các nghiên cứu ở trong nước Hiện nay giáo dục nước ta đang đổi mới một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung đến PPDH.Định hướng cơ bản của công cuộc đổi mới nền giáo dục nước nhà đã chỉ rõ trong các Nghị quyết của Đảng, đó là: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"; "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD&ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học". Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học được xem như một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ dạy - học và nghiên cứu khoa học. Trong báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn 11 mạnh: “Tăng cường CSVC- TBDH và từng bước hiện đại hoá nhà trường (lớp học, sân chơi, bãi tập, máy tính nối mạng Internet, thiết bị học tập giảng dạy hiện đại, các phòng thực hành thí nghiệm, phòng thực hành chức năng, thư viện .” và “Đổi mới PPDH, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay”. Theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Nhà nước sẽ tăng cường đầu tư xây dựng CSVC-TBDH cho các trường học thành một hệ thống đồng bộ và hiện đại góp phần đổi mới phương pháp dạy - học, nhằm đào tạo các học sinh tốt nghiệp có đủ năng lực kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ở trong nước: năm 2001, nhà xuất bản Hà Nội cũng xuất bản "Tài liệu khoá tập huấn của Dự án Việt úc". Năm 2006, nhà xuất bản Hà Nội đã xuất bản cuốn "Quản lý và sử dụng nhằm tăng cường hiệu quả TBDH" đưa ra được một số phương pháp quản lý cũng như sử dụng TBDH vào giảng dạy để đạt hiệu quả cao. Tác giả Phan Văn Triển đã có công trình đăng trên tạp chí Thiết bị giáo dục số 1 cũng đã bàn về một số giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học (Đỗ Huy Khánh, 2013; tr. Giáo trình: "Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường trung học cơ sở", tập 4 của tác giả do Chu Mạnh Nguyên (chủ biên), ở bài 22 tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC- TBDH và công tác quản lý về CSVC-TBDH.
Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình (Chu Mạnh Nguyên, 2005) Trong cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy - học ở trường phổ thông Việt Nam”của tác giả Trần Quốc Đắc đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, tác giả xác định vị trí, vai trò của CSVC và TBDH ở trường phổ thông. Theo tác giả: "TBDH phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này, đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH.