Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Đắk Lắk sở hữu nguồn tài nguyên nhân văn phong phú với 49 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 35,70% dân số với 667.322 người. Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, hoạt động du lịch văn hóa tại địa phương đã có những bước tiến rõ rệt. Giai đoạn 2021-2023, tỉnh đã đón trên 2,7 triệu lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 39.000 lượt khách quốc tế, đóng góp vào tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh đạt trên 3.227 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc khai thác các giá trị di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Gia Rai, Thái, Tày, Nùng để tạo thành các sản phẩm du lịch đặc thù vẫn còn mang tính tự phát, thiếu đồng bộ và sức cạnh tranh chưa cao.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống và nhu cầu thương mại hóa sản phẩm du lịch để phát triển kinh tế cộng đồng. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm đánh giá toàn diện thực trạng quản lý, khai thác 5 nhóm sản phẩm văn hóa tiêu biểu, từ đó xác lập hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao cho ngành Quản lý công tại tỉnh Đắk Lắk. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát toàn bộ 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh; dữ liệu khảo sát thực tế được thu thập từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2024; khung thời gian ứng dụng kết quả đề án được định hình cho giai đoạn 2025-2030. Ý nghĩa thực tiễn của đề án là cung cấp luận cứ khoa học và công cụ quản trị giúp nâng cao mức thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số lên gấp 2 lần so với năm 2020 theo mục tiêu tại Quyết định số 1719/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận về quản trị công hiện đại và lý thuyết phát triển du lịch bền vững. Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt bắt nguồn từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, trong đó xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển. Kết hợp với Công ước bảo vệ Di sản Văn hóa và Tự nhiên Thế giới của UNESCO, nghiên cứu vận dụng mô hình chuỗi giá trị sản phẩm du lịch văn hóa nhằm chuyển hóa các tài nguyên văn hóa tĩnh thành các dịch vụ, hàng hóa văn hóa có giá trị gia tăng cao.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong đề án bao gồm:

  1. Văn hóa: Hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
  2. Di sản văn hóa: Bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể theo quy định của Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), là tài sản tinh thần và vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền qua các thế hệ.
  3. Sản phẩm văn hóa tiêu biểu phục vụ du lịch: Tập hợp các yếu tố vật chất và phi vật thể mang tính đại diện, đặc sắc của một cộng đồng tộc người, được đóng gói và cung ứng để đáp ứng nhu cầu trải nghiệm, thưởng thức của du khách.
  4. Du lịch bền vững: Hoạt động du lịch phát triển theo quy hoạch, có trọng tâm trọng điểm, gắn liền với bảo tồn di sản và môi trường sinh thái theo Luật Du lịch năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu

Đề án sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo chính thức giai đoạn 2018-2023 của Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk, cùng hệ thống văn bản pháp lý như Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội, Quyết định số 2615/QĐ-UBND tỉnh Đắk Lắk, Nghị quyết số 10/2021/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 365 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu định mức có chủ đích (purposive sampling), bao gồm: 45 cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa - du lịch các cấp; 120 nghệ nhân, chủ thể văn hóa tại các buôn du lịch cộng đồng như buôn Akŏ Dhông, buôn Kuốp, buôn Trí và các hợp tác xã làng nghề dệt thổ cẩm, làm gốm; 200 du khách nội địa và quốc tế đang trải nghiệm tại Đắk Lắk. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích so sánh định lượng và phỏng vấn sâu chuyên gia. Việc lựa chọn phương pháp hỗn hợp này cho phép định lượng chính xác quy mô tài nguyên văn hóa và doanh thu du lịch, đồng thời bóc tách sâu sắc các rào cản cơ chế chính sách từ góc nhìn thực tiễn của cơ quan quản lý và cộng đồng bản địa. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được hoàn thành trong 6 tháng đầu năm 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên di sản vật thể và công trình kiến trúc nhà ở truyền thống có giá trị đặc sắc nhưng nguồn lực đầu tư tôn tạo còn hạn hẹp. Đắk Lắk hiện có 43 di tích đã được xếp hạng, gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt (Nhà đày Buôn Ma Thuột, Bến phà Sêrêpốk), 17 di tích quốc gia và 24 di tích cấp tỉnh. Riêng Bảo tàng Đắk Lắk đang lưu giữ hơn 10.000 hiện vật quý, thu hút 148.558 lượt khách tham quan trong năm 2023. Hệ thống kiến trúc nhà dài truyền thống của người Ê Đê có chiều dài từ 15m đến 100m và nhà rông Tây Nguyên là không gian văn hóa độc đáo, song việc bảo tồn cấu trúc gỗ nguyên bản đang gặp nhiều khó khăn trước tốc độ đô thị hóa.

Thứ hai, kho tàng di sản văn hóa phi vật thể vô cùng đồ sộ với hạt nhân là Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên. Toàn tỉnh kiểm kê được 2.307 bộ chiêng (gồm 2.064 bộ chiêng Ê Đê, 164 bộ chiêng M'nông, 62 bộ chiêng Gia Rai), 3.855 nghệ nhân diễn tấu cồng chiêng và 186 nghệ nhân hát kể sử thi. Tỉnh đã tổ chức 128 lớp truyền dạy đánh chiêng, phục dựng trên 140 nghi lễ gắn với cồng chiêng và khôi phục gần 50 lễ hội truyền thống, trong đó có 15 lễ hội buôn làng tiêu biểu và 20 nghi lễ cấp huyện, thị xã.

Thứ ba, các làng nghề thủ công và sản phẩm ẩm thực truyền thống bước đầu tạo sinh kế ổn định nhưng quy mô sản xuất còn manh mún. Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Tơng Bông (thành phố Buôn Ma Thuột) giúp các nữ xã viên đạt mức thu nhập từ 3,2 đến 3,5 triệu đồng/người/tháng qua các sản phẩm y phục, túi xách, quà lưu niệm. Nghề làm gốm cổ truyền của người M'nông tại xã Yang Tao (huyện Lắk) được khôi phục thành công tại 6 buôn. Ẩm thực bản địa với rượu cần men lá, cơm lam, gà nướng, cà đắng cá khô đã trở thành sản phẩm dịch vụ đặc trưng tại các khu du lịch Buôn Đôn, Hồ Lắk, Ko Tam.

Thứ tư, hiệu quả khai thác kinh tế du lịch tăng trưởng khá nhưng cơ cấu thị trường khách chưa cân đối. Lượng khách du lịch giai đoạn 2021-2023 tăng trưởng bình quân 15%/năm, đạt 4.709 ngàn lượt khách, hoàn thành 58,13% chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2021-2025. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế mới đạt 39.000 lượt (đạt 30,15% chỉ tiêu), cho thấy sức hút của các sản phẩm văn hóa đối với thị trường khách quốc tế còn nhiều dư địa cần khai mở.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa rõ nét thông qua biểu đồ phân bố 49 thành phần dân tộc và bảng đối chiếu tăng trưởng doanh thu du lịch qua các năm 2021-2023. Biểu đồ đường thể hiện tốc độ phục hồi du lịch cho thấy xu hướng tăng trưởng nhanh của khách nội địa sau đại dịch, nhưng đường biểu diễn khách quốc tế đi ngang do thiếu các sản phẩm trải nghiệm văn hóa chuyên sâu đạt tiêu chuẩn quốc tế.

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành giữa văn hóa, du lịch và lâm nghiệp, dẫn đến nhiều vướng mắc về thủ tục chuyển đổi đất rừng khi triển khai hạ tầng du lịch di tích. Nguồn ngân sách phân bổ còn phân tán (giai đoạn 2018-2022 đầu tư 376,173 tỷ đồng cho 11 dự án hạ tầng giao thông kết nối nhưng các hạng mục dịch vụ phụ trợ tại điểm đến chưa hoàn chỉnh). Đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa tại cơ sở còn thiếu hiểu biết về tiếng nói, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Chế độ bồi dưỡng cho nghệ nhân tham gia biểu diễn cồng chiêng định kỳ còn thấp (khoảng 200.000 đồng/buổi), chưa tạo được động lực mạnh mẽ để thế hệ trẻ gắn bó lâu dài với việc gìn giữ di sản.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát triển toàn diện các sản phẩm văn hóa tiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2025-2030, đề án đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và quy hoạch không gian văn hóa: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cần ban hành quy chế quản lý đặc thù về phát triển du lịch cộng đồng dân tộc thiểu số trước quý II/2025. Tiến hành lập quy hoạch chi tiết bảo tồn kiến trúc nhà dài truyền thống tại các buôn điểm: Buôn Yang Lành (huyện Buôn Đôn), Buôn Ja (huyện Krông Bông), Buôn Tring (thị xã Buôn Hồ), đảm bảo 100% các công trình homestay mới xây dựng giữ vững phong cách kiến trúc bản địa.
  2. Nâng cấp hạ tầng và số hóa di sản phục vụ du lịch: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các sở, ngành triển khai dự án tu bổ Di tích quốc gia đặc biệt Nhà đày Buôn Ma Thuột với kinh phí 10 tỷ đồng trong giai đoạn 2022-2025. Hoàn thành lắp đặt hệ thống cơ sở dữ liệu thuyết minh tự động quét mã QR tại 43 di tích xếp hạng và xây dựng cổng thông tin du lịch thông minh đa ngôn ngữ trước năm 2026.
  3. Chuẩn hóa sản phẩm làng nghề, ẩm thực và chuỗi tour tuyến: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Công Thương hỗ trợ chuẩn hóa ít nhất 15 sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thổ cẩm và rượu cần đạt chứng nhận OCOP 3 đến 4 sao giai đoạn 2025-2028. Tổ chức định kỳ 20 lớp tập huấn kỹ năng nghề du lịch, văn hóa giao tiếp và an toàn vệ sinh thực phẩm ẩm thực truyền thống cho hơn 1.000 hộ gia đình dân tộc thiểu số tham gia làm du lịch.
  4. Mở rộng liên kết thị trường và xúc tiến quảng bá quốc tế: Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch Đắk Lắk chủ động thiết lập kênh quảng bá tại các thị trường trọng điểm trong Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia và tỉnh Jeollabuk (Hàn Quốc). Mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ trọng doanh thu từ dịch vụ văn hóa du lịch chiếm trên 10% tổng GRDP của tỉnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách: Các cơ quan như Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban Dân tộc, Phòng Văn hóa - Thông tin cấp huyện có thể sử dụng đề án làm tài liệu căn cứ để xây dựng các chương trình hành động, đề án bảo tồn văn hóa gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2025-2030.
  2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành và du lịch: Các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh tìm thấy tại đây các dữ liệu chi tiết về 43 di tích, 50 lễ hội và hệ thống buôn làng du lịch cộng đồng (buôn Akŏ Dhông, buôn Kuốp, buôn Trí) để xây dựng các tour trải nghiệm văn hóa Tây Nguyên đặc sắc.
  3. Ban quản trị các hợp tác xã làng nghề và cộng đồng nghệ nhân: Đề án cung cấp định hướng chuẩn hóa mẫu mã sản phẩm dệt thổ cẩm, gốm thủ công, cách thức tiếp cận thị trường quà tặng lưu niệm và nâng cao thu nhập bền vững từ chính di sản của dân tộc mình.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Là nguồn tài liệu học thuật giá trị cho các nghiên cứu thuộc khối ngành Quản lý công, Du lịch học, Văn hóa học và Phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Đắk Lắk hiện có bao nhiêu thành phần dân tộc cùng sinh sống và dân tộc thiểu số nào chiếm tỷ lệ cao nhất?

Tỉnh Đắk Lắk có 49 dân tộc anh em cùng chung sống. Dân tộc Kinh chiếm đa số với 64,30% (khoảng 1.202.000 người). Khối đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 35,70% (667.322 người), trong đó dân tộc Ê Đê chiếm tỷ lệ đông nhất với 18,79% dân số toàn tỉnh (tương đương 351.278 người), tiếp theo là dân tộc Nùng (4,06%), Tày (2,84%) và M'nông (2,59%).

Những di sản văn hóa phi vật thể nào của Đắk Lắk đã được vinh danh ở cấp quốc gia và thế giới?

Đắk Lắk tự hào sở hữu Di sản Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ở cấp quốc gia, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ghi danh 4 di sản phi vật thể gồm: Sử thi Ê Đê, Lễ mừng thọ của người M'nông (huyện Lắk), Lời nói vần của người Ê Đê (huyện Cư M'gar) và Mo Mường.

Mô hình phát triển buôn du lịch cộng đồng tại Đắk Lắk mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào?

Mô hình du lịch cộng đồng tại buôn Akŏ Dhông, buôn Kuốp và buôn Trí đã tạo việc làm ổn định cho hàng trăm lao động bản địa. Các hợp tác xã như Dệt thổ cẩm Tơng Bông mang lại thu nhập đều đặn từ 3,2 đến 3,5 triệu đồng/người/tháng cho các nghệ nhân nữ từ việc bán sản phẩm thổ cẩm lưu niệm giá từ 100.000 đồng đến 700.000 đồng/sản phẩm.

Thách thức lớn nhất trong việc bảo tồn và khai thác sản phẩm văn hóa dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk là gì?

Thách thức lớn nhất là nguy cơ mai một bản sắc văn hóa gốc, sự thiếu hụt thế hệ nghệ nhân kế cận khi nhiều nghệ nhân lớn tuổi qua đời. Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư hạ tầng còn hạn chế, các vướng mắc về đất rừng khi triển khai tôn tạo di tích và sự thiếu đồng bộ trong kỹ năng làm du lịch chuyên nghiệp của người dân địa phương.

Giai đoạn 2025-2030, tỉnh Đắk Lắk ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển những sản phẩm văn hóa du lịch nào?

Tỉnh tập trung nguồn lực phát triển 5 nhóm sản phẩm: bảo tồn kiến trúc nhà dài truyền thống gắn với homestay; nâng tầm Không gian văn hóa cồng chiêng và các lễ hội truyền thống; chuẩn hóa ẩm thực đặc sản bản địa; mở rộng các chuỗi làng nghề gốm Yang Tao, dệt thổ cẩm; đồng thời số hóa điểm đến thông qua ứng dụng công nghệ du lịch thông minh.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về quản trị, phát triển các sản phẩm văn hóa tiêu biểu của 49 dân tộc thiểu số phục vụ ngành kinh tế du lịch.
  • Phân tích thực chứng bức tranh tài nguyên văn hóa phong phú tại Đắk Lắk với 43 di tích xếp hạng, 2.307 bộ cồng chiêng, 3.855 nghệ nhân và gần 50 lễ hội truyền thống đặc sắc.
  • Đánh giá thẳng thắn các điểm nghẽn về thể chế quản lý, mức đầu tư ngân sách chưa tương xứng và chất lượng nguồn nhân lực làm công tác văn hóa ở cơ sở.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp có tính ứng dụng cao về cơ chế chính sách, nâng cấp hạ tầng số hóa, chuẩn hóa sản phẩm làng nghề ẩm thực và liên kết xúc tiến quốc tế.
  • Xác định lộ trình triển khai rõ ràng theo giai đoạn 2025-2030, gắn kết chặt chẽ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các địa phương.

Kết quả nghiên cứu của đề án là cơ sở khoa học tin cậy để các cấp chính quyền và doanh nghiệp hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch Đắk Lắk bứt phá thành ngành kinh tế mũi nhọn. Hãy liên hệ và tham khảo chi tiết toàn văn đề án để cùng đóng góp sáng kiến phát triển du lịch văn hóa Tây Nguyên bền vững.