Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa 1. Một số khái niệm 1. Lý luận về du lịch văn hóa 1. Tiểu kết chƣơng 1 Chương 2: Thực trạng về du lịch văn hoá Thành phố Cần Thơ 2.
Khái quát chung về 2. Tài nguyên du lịch nhân văn của Cần Thơ 2. Thực trạng du lịch văn hóa của TP Cần Thơ 2. Nhận xét về thực trạng hoạt động du lịch TP Cần Thơ hiện nay 2.
Tiểu kết chƣơng 2 Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển du lịch văn hóa thành phố Cần Thơ 3. Cơ sở để xây dựng định hƣớng 3. Định hƣớng phát triển du lịch văn hóa TP Cần Thơ 3. Các giải pháp phát triển du lịch văn hóa TP Cần Thơ 3.
Một số kiến nghị 3. Tiểu kết chƣơng 3 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về du lịch Theo điều 4 của Luật Du lịch đƣợc Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [7, tr.
Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO) năm 1993 nhƣ sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của cá thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với khoảng thời gian không quá một năm với mục đích hòa bình, nơi đến cư trú không phải là nơi đến làm việc.” Theo định nghĩa của hiệp hội Quốc tế các tổ chức du lịch chính thức IOOTO (International Of Official Travel Organizations): “Du lịch là một hoạt động có tính thường xuyên hay bất thường của một cá nhân hay một nhóm tạm thời rời xứ sở đang cư trú bằng một phương tiện ôn hòa để đến một vùng hoặc một quốc gia khác nhằm mục đích thăm viếng, giải trí, tìm hiểu, nghỉ ngơi… và sẽ hồi cư sau một thời gian dự định”. Có khá nhiều khái niệm về du lịch, nhƣng khái niệm về du lịch một cách đầy đủ cần bao hàm đƣợc những yếu tố cấu thành của nó. Không giống nhƣ các sản phẩm khác, du lịch có ảnh hƣởng và chịu ảnh hƣởng lớn nhất từ hầu hết các ngành kinh tế khác. Theo quan điểm của MC.Intosh ( Mỹ ) thì du lịch là: "Tổng số các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa du khách, các nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách".
Nhƣ vậy, theo định nghĩa trên, du lịch gồm 4 thành phần sau: - Du khách - Các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho du khách. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Chính quyền tại địa điểm du lịch - Dân cƣ địa phƣơng. Du khách: Những ngƣời đi tìm các trải nghiệm và thoả mãn về vật chất và tinh thần khác nhau. Ƣớc muốn của các đối tƣợng này sẽ xác định địa điểm du lịch đƣợc lựa chọn và các hoạt động đƣợc thực hiện tại địa điểm đó.
Sản phẩm dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các doanh nghiệp cho cơ sở du lịch và khách du lịch: Các nhà kinh doanh xem du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận bằng cách cung cấp sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dân chúng địa phƣơng: Xem du lịch là cơ hội tạo việc làm, thu nhập và giao lƣu văn hoá. Chính quyền sở tại: Xem du lịch chủ yếu là một hoạt động kinh tế có mang lại thu nhập cho dân chúng, ngoại tệ cho quốc gia và tiền thuế cho ngân quỹ. Nhƣ vậy từ bốn thành phần trên, “Du lịch có thể được hiểu là tổng hợp các hiện tượng, mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa du khách, các nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón phục vụ du khách".
Khái niệm về văn hóa Từ “văn hóa” (tiếng Latinh có nghĩa là trồng trọt) khởi đầu có nghĩa là vỡ đất, chăm bón đất đai trong lao động nông nghiệp. Nhƣ vậy, nguồn gốc của từ văn hóa có liên quan đến lao động, hoạt động của con ngƣời trong cải tạo tự nhiên. Theo nghĩa rộng, văn hóa thƣờng đƣợc xem là bao gồm tất cả những gì do con ngƣời sáng tạo ra. Năm 1940 Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc rất quan tâm tới vấn đề văn hóa.
Ngƣời định nghĩa văn hóa theo một cách rất riêng: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống của loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng với yêu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [10, tr. Phan Ngọc đƣa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trƣớc đó, theo ông đều mang tính tinh thần luận.
“Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác.
Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một dân tộc khác”[12, tr. Để có một định nghĩa đầy đủ nhất về văn hóa, cách tốt nhất là gắn văn hóa với con ngƣời, theo Ph.Mayo nguyên tổng giám đốc UNESCO đã nhận định: “ Văn hóa sinh ra cùng với con người, có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù là hoạt động sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần hay trong quan hệ giao tiếp ứng xử xã hội và cả trong thái độ đối với tự nhiên”. Theo quan niệm của UNESCO thì văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. + Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại, thể hiện đời sống tinh thần của con ngƣời dƣới hình thức vật chất, là kết quả của hoạt động sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng thẩm mĩ, nhằm phục vụ đời sống của con ngƣời.
Văn hóa vật thể quan tâm nhiều đến chất lƣợng và đặc điểm của đối tƣợng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo của con ngƣời biến thành những sản phẩm vật 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất giúp cho cuộc sống của con ngƣời. Văn hóa vật thể nhƣ những công trình kiến trúc nổi tiếng gắn với lịch sử văn hóa dân tộc (đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ…) và những sản phẩm mỹ thuật độc đáo (tranh ảnh, gốm sứ,…) do quá trình lao động của con ngƣời tạo ra. + Văn hóa phi vật thể là văn hóa tồn tại từ đời này sang đời khác một cách tiềm ẩn trong trí nhớ của con ngƣời, chỉ khi nó đƣợc khách thể hóa (thông qua các hoạt động con ngƣời trong xã hội, trong một khoảng thời gian nhất định) thì ngƣời ta mới nhận biết đƣợc các hình thái biểu trƣng của nó. Văn hóa phi vật thể nhƣ (âm nhạc, múa, truyền thống, văn chƣơng truyền miệng, ngôn ngữ huyền thoại, phong tục tập quán, lễ hội.) Dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhƣng nhìn chung văn hóa trƣớc hết phải có tính hệ thống, mọi sự kiện thuộc nền văn hóa đều có liên quan mật thiết với nhau, đây là đặc trƣng thứ nhất của văn hóa.
Đặc trƣng quan trọng thứ hai của văn hóa là tính giá trị. Các giá trị văn hóa theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần ( phục vụ cho nhu cầu tinh thần). Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ (chân – thiện – mỹ). Các giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ đều thuộc giá trị tinh thần, giá trị tinh thần còn bao gồm các tƣ tƣởng có giá trị sử dụng (khoa học, giáo dục.) trong đó cả bản thân cách thức sáng tạo ra các giá trị mà qua kinh nghiệm con ngƣời đã tích lũy đƣợc.
Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời. Trong giá trị nhất thời lại phân biệt giá trị lỗi thời, giá trị hiện hành, giá trị đang hình thành. Đặc trƣng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh. Văn hóa là một hiện tƣợng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con ngƣời.
Văn hóa đối lập với tự nhiên, nó là cái tự nhiên đƣợc biến đổi dƣới tác động của con ngƣời, là phần giao giữa tự nhiên và con ngƣời. Đặc trƣng này phép phân biệt loài ngƣời sáng tạo với loài vật bản năng, phân biệt văn hóa với giá trị tự nhiên chƣa mang dấu ấn sáng tạo do con ngƣời. Do gắn liền với con 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời và hoạt động của con ngƣời trong xã hội, văn hóa đã trở thành công cụ giao tiếp quan trọng. Đặc trƣng thứ tƣ của văn hóa là tính lịch sử.
Văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và đƣợc tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu và chính nó buộc văn hóa thƣờng xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị [18, tr. Truyền thống văn hóa đƣợc tôn thờ nhờ giáo dục. Nhờ đó văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con ngƣời.