phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa biển đảo Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đóng góp của luận văn Luận văn có đóng góp nhất định trên ba vấn đề: - Thứ nhất, tổng quan các vấn đề lý luận vằn du lịch văn hóa và du lịch văn hóa biển đảo ở Việt Nam. - Thứ hai, khảo sát thực trạng các hoạt động du lịch văn hóa biển đảo tại Khánh Hòa. - Thứ ba, đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa biển đảo Khánh Hòa, cũng nhƣ bảo tồn văn hóa biển đảo Khánh Hòa trong hoạt động du lịch.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA BIỂN ĐẢO 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa.
Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngƣỡng, phong tục,lối sống. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên, NXB Văn hóa – Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử”.
Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đƣa ra một loạt quan niệm về văn hóa: - Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên xã hội. - Văn hóa là những hoạt động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát); - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học (nói khái quát); - Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xƣa, đƣợc xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn Trong cuốn Xã hội học Văn hóa của Đoàn Văn Chúc, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, tác giả cho rằng: Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con ngƣời trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con ngƣời nơi đó có văn hóa. Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình.
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng: Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con ngƣời sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên. Khái niệm du lịch văn hóa Du lịch và văn hóa có sự hội tụ rất lớn về mặt không gian và thời gian. Không gian văn hóa và không gian du lịch có rất nhiều điểm tƣơng đồng.
Du lịch lấy không gian văn hóa làm không gian thu hút các hoạt động cho mình và ngƣợc lại nơi nào có bóng dáng của du lịch thì nơi ấy văn hóa có điều kiện phát triển hơn. Hơn thế nữa, du lịch và văn hóa sẽ hợp lại thành một nhƣ cách nói của Groen: “Văn hóa và du lịch sẽ đi đến sự hợp nhất và tất cả cho nhau” (Cultural and tourism are destined once and for all to be together) [Groen, 1994: 23]. Vì mối quan hệ đặc biệt này mà văn hóa cũng đƣợc xem là đối tƣợng của du lịch và du lịch văn hóa đƣợc hình dung nhƣ một trong những cách thức tiêu thụ, thƣởng thức văn hóa. Hơn nữa, du lịch và văn hóa có một mối quan hệ nội hàm sâu sắc đƣợc biểu hiện rõ qua sự hội tụ Cung - Cầu.
Tức là, sự mở rộng và phát triển của “Cung” về du lịch cũng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính là sự mở rộng và phát triển của “Cung” về tiêu thụ văn hóa và ngƣợc lại. Vì thế, một “ngành công nghiệp văn hóa” đã ra đời để phục vụ cho nhu cầu hƣởng thụ văn hóa, trong đó, du lịch văn hóa đƣợc xem là một “kênh phân phối” để “tiêu thụ” văn hóa hiệu quả nhất. Ngày càng có nhiều du khách hiếu kỳ muốn tìm kiếm và trải nghiệm sự khác biệt về văn hóa bằng cách đi du lịch. Du lịch văn hóa là xu hƣớng của các nƣớc đang phát triển vì đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội.
Bên cạnh những loại hình du lịch nhƣ du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo dục. gần đây du lịch văn hóa đƣợc xem là loại sản phẩm đặc thù của các nƣớc đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế. Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngƣỡng. để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới.
Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ. Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phƣơng - nơi lƣu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo. Khách du lịch ở các nƣớc phát triển thƣờng lựa chọn những lễ hội của các nƣớc để tổ chức những chuyến du lịch nƣớc ngoài. Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng.
Khái niệm văn hóa biển đảo Để làm rõ khái niệm văn hóa biển đảo, xin trích dẫn bài nghiên cứu của GS. Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa biển đảo” có thể đƣợc xem là một khái niệm mới. Quốc gia biển đầu tiên đƣợc biết đến trong lịch sử là Phoenicia ở Tây Nam Á. Quốc gia biển tiếp theo là Hy Lạp cổ đại, sau đó là La Mã.
Tiếp theo La Mã là ngƣời Viking ở Bắc Âu. Từ thời trung đại trở đi là Bồ Đào 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh, hiện nay là Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản từng là quốc gia biển trong giai đoạn từ sau chiến tranh Nhật –Nga đến 1945. Quốc gia biển thì không nhiều, các dân tộc có văn hóa biển đảo thì nhiều hơn.
Nhƣng khi nào thì có thể nói rằng một dân tộc có văn hóa biển đảo? Nói cách khác, cần có tiêu chí phân biệt sự tồn tại của những yếu tố văn hóa biển đảo với sự tồn tại của văn hóa biển đảo nhƣ một thành tố của văn hóa dân tộc. Văn hóa biển đảo là vấn đề gần đây bắt đầu đƣợc thế giới quan tâm nhiều. Văn hóa biển đảo là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm văn hóa phân loại theo điều kiện sinh thái, hay khái quát hơn là văn hóa xét theo không gian, bên cạnh những khái niệm nhƣ “văn hóa núi” - “văn hóa đồng bằng”; “văn hóa xứ nóng” - “văn hóa xứ lạnh”; “văn hóa gió mùa”, v. Từ góc nhìn văn hóa học, có thể định nghĩa: Văn hóa biển đảo là hệ thống các giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy biển cả làm nguồn sống chính.
Với định nghĩa này, văn hóa biển đảo trƣớc hết phải là văn hóa, nó phải thỏa mãn bốn đặc trƣng của văn hóa nói chung là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Ngoài bốn đặc trƣng chung, có hai đặc trƣng riêng làm nhiệm vụ khu biệt văn hóa biển với các dạng thức văn hóa khác: Thứ nhất là đặc trƣng về không gian tồn tại: “lấy biển cả làm nguồn sống”. Thứ hai là đặc trƣng định lƣợng về không gian tồn tại ấy: biển cả không chỉ là nguồn sống mà phải là “nguồn sống chính”. Ngô Đức Thịnh: Trong công trình Các dạng thức văn hóa Việt Nam, tác giả đã phân chia các dạng thức văn hóa của con ngƣời thành 4 nhóm, trong đó văn hóa biển đảo thuộc nhóm “văn hóa sinh thái” (Ecological Culture), cũng giống nhƣ văn hóa châu thổ, văn hóa thung lũng, văn hóa rẻo cao, văn hóa cao nguyên, văn hóa thảo nguyên… Có thể quan niệm văn hóa sinh thái là thứ văn hóa sản sinh ra trong quá trình con người thích ứng vời môi trường sống, từ đó hình thành nên những tri thức, những hành vi ứng xử, những tập tục, nghi lễ, thói quen…tương thích với môi trường 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh thái ấy.
Tất cả những cái đó nhằm đảm bảo cho sinh tồn và sự đáp trả của con người trước những thách thức của môi trường sống. Nhƣ vậy, từ góc nhìn nhân học văn hóa, văn hóa biển đảo, tác giả cho rằng là hệ thống các tri thức của con người về môi trường biển đảo, các giá trị và biểu trưng rút ra từ những hoạt động sống của con người trong môi trường ấy, cùng với nó là những cảm thụ, hành vi ứng xử, những nghi lễ, tập tục, thói quen của con người tương thích với môi trường biển đảo.