Chương I):“Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”1.TS Nguyễn Pha ̣m Hùng : “Du lịch văn hóa là toàn bô ̣ các dich ̣ vu ̣ du lich ̣ dựa vào viê ̣c khai thác sự khác biê ̣t , đô ̣c đáo mới la ̣ của tài nguyên văn hóa phục vụ nhu cầu thưởng thức , khám phá, trải nghiệm của du khách. Du lịch văn hóa là du lịch dựa vào khai thác các tài nguyên du lịch để tạo ra các dịch vụ du lịch thích hợp phục vụ nhu cầu du khách” [Nghiên cứu phát triển du l ịch văn hóa vùng Đồng bằng Sông Hồng, 2013, tr 32]. Đặc điểm Đặc điểm cơ bản của du lịch văn hóa là du lịch văn hóa gắn liền với các họat động du lịch và hoạt động văn hóa - Tính đa dạng: du lịch văn hóa với chất lượng cao được tạo nên bởi sự đa dạng trong đối tượng phục vụ, mục đích phục vụ hay điểm đến của du lịch văn hóa như các cảnh quan thiên nhiên, kỳ quan thế giới, các di tích lịch sử - văn hóa cho đến các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán lâu đời, các loại hình văn hóa 1 Quố c hô ̣i nước CHXHCNVN, Luật Du li ̣ch, NXB Lao đô ̣ng, H.3 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ thuật dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, cần kể đến các cơ sở vật chất và các dịch vụ kèm theo.
- Tính đa thành phần: không hề có một giới hạn nào cho những đối tượng liên quan đến du lịch văn hóa. Du khách tham gia vào du lịch văn hóa, các tổ chức Nhà nước và tư nhân, các doanh nhân trong và ngoài nuớc đầu tư, hoạt động trong lĩnh vực du lịch, những nhân viên, hướng dẫn viên du lịch, cộng đồng địa phương đều rất đa dạng, gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động du lịch văn hóa. Vì vậy, tính đa thành phần còn bao hàm trong đó cả tính xã hội hóa cao - Tính đa mục tiêu: Du lịch văn hóa mang lại lợi ích nhiều mặt như bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di tích lịch sử – văn hóa, duy trì và phát triển văn hóa phi vật thể, nâng cao chất lượng phục vụ du khách, nâng cao chất lượng đời sống của người phục vụ du lịch, mở rộng học hỏi và giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng. - Tính liên vùng: Du lịch văn hóa nâng cao ý thức của du khách về văn hóa, thẩm mỹ,…Vì vậy nên có sự liên kết giữa các cơ sở du lịch, các vùng văn hóa với nhau trong việc hoạch định các tuyến, điểm du lịch văn hóa phục vụ cho du khách.
- Tính mùa vụ: đối với bầt kỳ loại hình du lịch nào cũng có đặc trưng này, đối với du lịch nói chung thể hiện ở số lượng du khách thường tập trung rất đông ở những tuyến, điểm du lịch văn hóa vào những ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ hè, nghỉ đông (du khách nước ngoài), nghỉ lễ. Sản phẩm du lịch - Sản phẩm du lịch là tổng hợp toàn bộ những tài nguyên và dịch vụ hàng hóa mà khách du lịch được hưởng thụ trong suốt chuyến đi. Sản phẩm du lịch văn hóa là việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn và các dịch vụ du lịch kèm theo để hình thành các chương trình du lịch, các dịch vụ có dấu ấn văn hóa chủ đạo và cơ bản 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo Michael M. Coltman, sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát.
Một "sản phẩm du lịch" đại diện cho một sự kết hợp của các khía cạnh khác nhau (đặc điểm của các nơi đến thăm, phương thức vận tải, loại hình nhà ở, các hoạt động cụ thể tại điểm du lịch,.) chẳng hạn như các tour du lịch thiên nhiên, cuộc sống trên trang trại, thăm di tích lịch sử và văn hóa, thăm một thành phố cụ thể, các bãi biển,. Khái niệm về "sản phẩm du lịch" không liên quan đến các khái niệm về "sản phẩm" được sử dụng trong thống kê kinh tế, nhưng thay vào đó được sử dụng bởi các chuyên gia trong ngành kinh doanh du lịch để quảng bá các gói hoặc các điểm đến. Các loại hình cụ thể của "sản phẩm du lịch", như du lịch ẩm thực, du lịch sinh thái, du lịch thành phố, du lịch nắng và cát, du lịch nông thôn, du lịch sức khỏe, du lịch mùa đông. Các loại hình du lịch văn hóa hiện đang được các nước tiên tiến khai thác: - Nhóm một: Du lịch văn hóa vùng di sản (Heritage sites cultural tourism), bao gồm tất cả những chuyến du lịch tham quan di sản thiên nhiên, di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể).
- Nhóm hai: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn (Literary landscapes cultural tourism) gồm tất cả những chuyến du lịch thăm lại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, thăm quan nơi làm việc của các vĩ nhân. - Nhóm ba: Du lịch văn hóa những điểm đen (Blackspot cultural tourism), là loại du lịch văn hóa đem lại cảm giác xúc động mạnh như: tham quan khu thảm sát trong chiến tranh, tham quan khu xảy ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay nơi xảy ra vụ đắm tàu lịch sử, nơi chôn xác trong chiến tranh. - Nhóm bốn: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural tourism), gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề như: Công viên nước, công viên hoa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc, công viên tình yêu, công viên nghệ thuật hóa trang. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Khách du lịch văn hóa Khách du lịch bao gồm: + Khách du lịch quốc tế (International tourist): Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist): là những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia. Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist): là những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài. + Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du lịch trong nước. + Khách du lịch nội địa (Domestic tourist):Bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến.
Đây là thị trường cho các cơ sở lưu trú và các nguồn thu hút khách trong một quốc gia. + Khách du lịch quốc gia (National tourist): Gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài Theo Luật du lịch của Việt Nam [số 44/200 5/QH11 n gà y 14 t h áng 06 nă m 2005,tr 1]: -Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến - Khách du lịch quốc tế (International tourist): là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch - Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): là công dân Việt nam và người nước ngoài cư trú tại Việt nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Theo nghiên cứu của McKercher và Du Cros, khách du lịch văn hóa chia thành năm nhóm [Du lịch và Văn hóa – Kinh nghiệm du lịch Châu Âu, tr 4.]: - Khách du lịch văn hóa có mục đích: là những đối tượng có mong muốn tìm hiểu, trải nghiệm về văn hóa sâu sắc. - Khách du lịch tham quan: đi du lịch vì lý do tìm hiểu văn hóa, ngắm cảnh.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khách du lịch tình cờ: mục đích của họ không phải đi tìm hiểu về văn hóa. Tuy nhiên họ lại được có cơ hội tham gia vào một trải nghiệm văn hóa sâu sắc - Khách du lịch văn hóa ngẫu hứng: được thúc đẩy bởi văn hóa rất ít. Những đối tượng này cũng có một kinh nghiệm văn hóa một cách ngẫu nhiên. - Khách du lịch văn hóa khác: không cố ý đến thăm các điểm tham quan văn hóa.
Điề u kiêṇ phát triể n du lich ̣ văn hóa 1. Tài nguyên du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam [ số 44 /200 5/QH11 n gà y 14 t háng 06 nă m 200 5, tr 1] “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáocó sức hấp dẫn lớn đối với du khách; tài nguyên du lịch là những tài nguyên gồm hai giá trị: giá trị hữu hình và giá trị vô hình; tài nguyên du lịch thường dễ khai thác; tài nguyên du lịch có thời gian khai thác khác nhau; tài nguyên du lịch được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch; tài nguyên du lịch có thể sử dụng được nhiều lần. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cơ sở hạ tầ ng và cơ sở vật chấ t kỹ thuật 1.
Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục.