Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 822,7 km2, tọa lạc tại vị trí chiến lược thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và nằm trên các hành lang kinh tế then chốt nối liền Nam Ninh, Lạng Sơn, Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh. Dù là tỉnh có quy mô địa lý nhỏ nhất Việt Nam, Bắc Ninh lại sở hữu một kho tàng di sản đồ sộ với 1.558 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 585 di tích được xếp hạng, bao gồm 4 di tích quốc gia đặc biệt gồm Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp, Chùa Phật Tích, Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Lý, cùng 547 lễ hội dân gian và 120 làng nghề truyền thống. Trong hơn hai thập kỷ đổi mới, địa phương đã đạt được những thành tựu vượt bậc về công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh luôn nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên hiện có.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ các điểm nghẽn kìm hãm sự bứt phá của ngành kinh tế không khói tại Bắc Ninh, đặc biệt là tình trạng thời gian lưu trú ngắn, mức chi tiêu bình quân của du khách thấp và mức độ liên kết chuỗi giá trị dịch vụ còn rời rạc. Mục tiêu cụ thể của công trình hướng đến việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý và phát triển du lịch địa phương, phân tích toàn diện thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2020, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp ứng dụng đồng bộ đến năm 2025, định hướng tầm nhìn đến năm 2030. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với công tác hoạch định chính sách, cung cấp căn cứ định lượng để nâng cao tỷ trọng đóng góp của du lịch vào tổng sản phẩm trên địa bàn lên khoảng 3% đến 5% và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng khách du lịch ổn định trên 12% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết tổ chức lãnh thổ du lịch của các học giả kinh điển như I. Pirojnik và mô hình tương tác hệ thống du lịch của Michael M. Coltman. Theo cách tiếp cận này, du lịch là một chỉnh thể tương tác đa chiều giữa bốn nhóm chủ thể chính gồm du khách, nhà cung ứng dịch vụ, cộng đồng cư dân sở tại và chính quyền địa phương. Cơ sở lý luận được củng cố vững chắc thông qua các khái niệm chuẩn hóa tại Điều 4 và Điều 13 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, trong đó khẳng định sản phẩm du lịch là sự kết hợp chặt chẽ giữa dịch vụ du lịch và tài nguyên du lịch văn hóa lẫn tự nhiên.

Khái niệm phát triển du lịch bền vững được vận dụng theo định hướng của Tổ chức Du lịch Thế giới và khoản 14 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017, bao gồm ba trụ cột hài hòa: bảo tồn tài nguyên môi trường, duy trì tính toàn vẹn văn hóa xã hội và đảm bảo sinh kế kinh tế lâu dài cho người dân bản địa. Về mặt không gian, luận văn sử dụng hệ thống phân vị tổ chức lãnh thổ cấp tỉnh bao gồm điểm du lịch, khu du lịch, trung tâm du lịch và tuyến du lịch. Trong đó, các tiêu chí đánh giá hiệu quả phát triển dựa trên hệ thống chỉ tiêu lượng khách, số ngày khách lưu trú, cơ cấu chi tiêu bình quân và tổng doanh thu ngành du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và các báo cáo chuyên ngành trong giai đoạn 2010 - 2020. Nhằm đảm bảo tính thực tiễn sâu sát của luận văn thạc sĩ theo định hướng ứng dụng, tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu khảo sát sơ cấp đạt 280 mẫu, bao gồm 200 phiếu phỏng vấn du khách trực tiếp tại các điểm tham quan và 80 phiếu điều tra cán bộ quản lý, doanh nghiệp lữ hành và cơ sở lưu trú.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng tại các điểm du lịch tiêu biểu như Chùa Phật Tích, Đền Đô, làng gốm Phù Lãng và làng tranh Đông Hồ. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bao quát được các phân khúc du khách khác nhau về độ tuổi, thu nhập và mục đích chuyến đi. Các phương pháp phân tích dữ liệu chủ đạo bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tỷ lệ phần trăm chuỗi thời gian biến thiên và phương pháp tổng hợp cân đối liên ngành. Việc lựa chọn các phương pháp phân tích này giúp nhận diện rõ sự phân hóa thị trường, biên độ tăng trưởng doanh thu và tính thời vụ sâu sắc của du lịch văn hóa tâm linh. Toàn bộ lộ trình thu thập thông tin và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục từ năm 2020 đến đầu năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ hệ thống số liệu thực tế giai đoạn 2010 - 2020 cho thấy bốn phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tài nguyên du lịch văn hóa nhân văn của Bắc Ninh có mật độ đậm đặc nhất cả nước nhưng phân bố thiếu đồng đều. Tỉnh sở hữu 1.558 di tích với 4 di tích quốc gia đặc biệt, 195 di tích cấp quốc gia và 338 di tích cấp tỉnh, kèm theo di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ được UNESCO vinh danh năm 2009. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch hiện chỉ tập trung chủ yếu vào khoảng 15% tổng số điểm di tích tiêu biểu, dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ vào mùa lễ hội đầu năm và bỏ ngỏ tiềm năng ở các vùng ngoại vi.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng lượng khách và doanh thu đạt mức khả quan trong giai đoạn 2010 - 2019 với mức tăng trưởng lượng khách bình quân trên 12% mỗi năm, đạt đỉnh hơn 1,6 triệu lượt khách vào năm 2019. Tuy nhiên, sang năm 2020, do tác động tiêu cực của dịch bệnh, lượng khách quốc tế giảm sâu hơn 75% và lượng khách nội địa giảm khoảng 60%, phản ánh rõ tính dễ tổn thương của thị trường trước các biến cố kinh tế xã hội toàn cầu.

Thứ ba, cơ cấu khách du lịch có sự mất cân đối nghiêm trọng khi khách nội địa chiếm trên 85% tổng lượt khách, trong khi khách quốc tế chỉ chiếm khoảng 15%. Đáng chú ý, thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Bắc Ninh chỉ đạt khoảng 1,1 đến 1,2 ngày trên mỗi lượt khách. Phần lớn du khách xuất phát từ Thủ đô Hà Nội chỉ tham quan trong ngày rồi quay về, khiến mức chi tiêu bình quân của mỗi lượt khách chỉ dao động khoảng 350.000 đến 500.000 đồng, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước.

Thứ tư, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ lưu trú du lịch còn nhiều hạn chế. Toàn tỉnh có hàng trăm cơ sở lưu trú nhưng đa phần là nhà nghỉ và khách sạn quy mô nhỏ dưới 2 sao. Số lượng cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 3 đến 5 sao chỉ chiếm chưa đầy 5% tổng số buồng phòng, thiếu vắng các tổ hợp nghỉ dưỡng giải trí sinh thái cao cấp và dịch vụ kinh tế đêm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng khách du lịch chủ yếu đi về trong ngày tại Bắc Ninh bắt nguồn từ rào cản tâm lý khoảng cách. Khoảng cách địa lý chỉ khoảng 30 km từ trung tâm Hà Nội cùng hệ thống giao thông huyết mạch như Quốc lộ 18 và Quốc lộ 1A mở rộng tạo thuận lợi lớn về khả năng tiếp cận nhưng lại biến Bắc Ninh thành điểm ghé thăm thoáng qua thay vì một điểm đến lưu trú dài hạn.

Để trực quan hóa các nhận định trên, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép kết hợp đồ thị đường, trong đó trục hoành biểu thị các mốc thời gian từ năm 2010 đến 2020, các cột biểu thị sản lượng khách nội địa và quốc tế, còn đường xu hướng phản ánh tổng doanh thu du lịch. Sự phân hóa này cũng có thể được hệ thống hóa qua bảng phân loại cơ cấu di tích và cơ sở lưu trú theo từng địa bàn huyện, thị xã, giúp làm nổi bật khoảng cách chênh lệch về năng lực hạ tầng giữa thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn với các huyện như Gia Bình, Lương Tài.

So sánh với các tỉnh lân cận thuộc vùng đồng bằng sông Hồng như Ninh Bình hay Quảng Ninh, Bắc Ninh chưa xây dựng được chuỗi sản phẩm trải nghiệm hoàn chỉnh. Các làng nghề truyền thống tiêu biểu như gốm Phù Lãng hay đúc đồng Đại Bái mới chỉ dừng lại ở hoạt động bán sản phẩm thô, thiếu các xưởng thực hành trải nghiệm, thiếu thuyết minh viên chuyên nghiệp và vệ sinh môi trường chưa đảm bảo. Ý nghĩa cốt lõi của kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Bắc Ninh phải chuyển dịch từ mô hình khai thác tài nguyên sẵn có sang mô hình kinh tế trải nghiệm, liên kết vùng để kéo dài chuỗi giá trị du lịch.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng vào năm 2025, định hướng năm 2030, luận văn đề xuất 5 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, đổi mới nhận thức và hoàn thiện cơ chế chính sách: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần sớm ban hành Chiến lược phát triển du lịch bền vững gắn với chuyển đổi số, xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư ưu đãi thuế và quỹ đất sạch cho các dự án khách sạn 4 đến 5 sao, phấn đấu nâng mức đóng góp của ngành du lịch vào GRDP tỉnh đạt trên 4% vào năm 2025.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng du lịch: Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh cần huy động nguồn vốn theo mô hình đối tác công tư với mục tiêu thu hút khoảng 4.500 tỷ đồng vốn xã hội hóa trong giai đoạn 2022 - 2025. Nguồn lực này tập trung hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối các trục di tích Chùa Dâu, Chùa Bút Tháp, đền Đô và xây dựng bến thủy nội địa dọc sông Đuống và sông Cầu để mở tour du lịch đường sông.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch tỉnh đặt mục tiêu đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, ngoại ngữ cho 100% hướng dẫn viên tại điểm và trên 75% lao động trực tiếp tại các cơ sở lưu trú trước quý IV năm 2024, đáp ứng tiêu chuẩn nghề du lịch quốc gia.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết vùng và xúc tiến du lịch số: Trung tâm Xúc tiến Du lịch Bắc Ninh cần hợp tác chặt chẽ với Sở Du lịch Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh hình thành các tuyến du lịch chung như Hành trình con đường di sản châu thổ sông Hồng. Triển khai nền tảng thuyết minh tự động số hóa 3D cho toàn bộ di tích quốc gia đặc biệt trước năm 2025, hướng tới thu hút 2,5 triệu lượt khách mỗi năm.

Thứ năm, bảo tồn môi trường du lịch và nâng cấp sản phẩm làng nghề: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chính quyền địa phương lồng ghép chương trình Mỗi xã một sản phẩm với du lịch nông thôn, di dời các cơ sở gây ô nhiễm tại 62 làng nghề truyền thống sang cụm công nghiệp tập trung trước năm 2026, bảo tồn không gian diễn xướng Dân ca Quan họ tại 49 làng Quan họ gốc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng:

Cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và các tỉnh đồng bằng sông Hồng có thể sử dụng các số liệu đánh giá thực trạng và khung khuyến nghị chính sách để xây dựng quy hoạch không gian du lịch, đề án xúc tiến đầu tư công giai đoạn 2025 - 2030.

Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư dịch vụ: Các công ty du lịch, tập đoàn khách sạn và nhà hàng có thể khai thác các phân tích về hành vi tiêu dùng, thị hiếu và ngày lưu trú của du khách để thiết kế các tour trải nghiệm văn hóa Quan họ, du lịch làng nghề ngắn ngày và định giá sản phẩm dịch vụ cạnh tranh.

Nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị dịch vụ du lịch và Địa lý kinh tế có thể dùng luận văn làm tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trong bài toán phát triển kinh tế vùng.

Cộng đồng nghệ nhân và ban quản lý làng nghề: Các cơ sở sản xuất tại các làng nghề như Đồng Kỵ, Phù Lãng, Đông Hồ có thể nắm bắt định hướng chuyển dịch từ sản xuất hàng hóa đơn thuần sang kinh tế dịch vụ trải nghiệm, cải thiện thiết kế bao bì và tạo chuỗi cung ứng hàng lưu niệm đạt chuẩn.

Câu hỏi thường gặp

Thế mạnh nổi trội nhất của tài nguyên du lịch tỉnh Bắc Ninh là gì? Bắc Ninh sở hữu mật độ di sản văn hóa dày đặc với 1.558 di tích, 4 di tích quốc gia đặc biệt và Dân ca Quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Bên cạnh đó, hệ thống 547 lễ hội dân gian và 120 làng nghề truyền thống tạo nên bản sắc độc nhất vô nhị vùng Kinh Bắc.

Vì sao lượng khách đến Bắc Ninh rất đông nhưng doanh thu lưu trú lại thấp? Do cự ly địa lý chỉ cách Hà Nội khoảng 30 km, hệ thống giao thông thuận tiện khiến hơn 85% du khách lựa chọn hình thức tham quan đi về trong ngày. Số ngày khách lưu trú bình quân chỉ đạt 1,1 đến 1,2 ngày và tỉnh thiếu các khu nghỉ dưỡng sinh thái, trung tâm thương mại cao cấp cùng các dịch vụ kinh tế đêm.

Đề tài luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn nào để thu thập dữ liệu? Tác giả đã thu thập số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh giai đoạn 2010 - 2020 và triển khai khảo sát thực địa với cỡ mẫu 280 phiếu điều tra theo phương pháp chọn mẫu phân tầng. Khảo sát bao gồm 200 du khách và 80 nhà quản lý, chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ tại các điểm di tích trọng điểm.

Làm thế nào để phát triển du lịch làng nghề Bắc Ninh một cách bền vững? Cần khắc phục triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường bằng cách quy hoạch các công đoạn sản xuất thô ra cụm công nghiệp, giữ lại không gian trưng bày sạch đẹp. Đồng thời, các làng nghề như gốm Phù Lãng hay đúc đồng Đại Bái cần bổ sung hoạt động trải nghiệm thực hành làm nghề và chuẩn hóa mẫu mã quà lưu niệm theo mô hình sản phẩm địa phương.

Mục tiêu cốt lõi của ngành du lịch Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2025 là gì? Định hướng của địa phương là nâng cao tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GRDP tỉnh đạt trên 4%, phục hồi và mở rộng quy mô đón 2,5 triệu lượt khách du lịch mỗi năm, đồng thời nâng tỷ lệ buồng phòng khách sạn đạt chuẩn 3 đến 5 sao lên trên 15% tổng nguồn cung lưu trú.

Kết luận

  • Đóng góp khoa học của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý kinh tế du lịch và làm sáng tỏ hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 - 2020.
  • Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giữa kho tàng 1.558 di tích phong phú với hiệu quả kinh tế du lịch chưa tương xứng, đặc biệt là tỷ lệ ngày khách lưu trú bình quân chỉ đạt 1,1 đến 1,2 ngày.
  • Bộ giải pháp 5 nhóm nội dung mang tính ứng dụng cao, gắn chặt mục tiêu tăng trưởng lượt khách trên 12% mỗi năm với nguồn lực xã hội hóa khoảng 4.500 tỷ đồng và số hóa 100% di tích trọng điểm.
  • Lộ trình thực hiện khuyến nghị được phân kỳ cụ thể: giai đoạn 2022 - 2024 tập trung chuẩn hóa nhân lực và hạ tầng kết nối, giai đoạn 2025 - 2026 hoàn thiện chuỗi sản phẩm OCOP gắn với làng nghề sạch và kinh tế đêm.
  • Các cấp chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân cần bắt tay ngay vào việc thực thi đồng bộ các giải pháp quy hoạch không gian, biến di sản văn hóa xứ Kinh Bắc thành nguồn lực tăng trưởng kinh tế bền vững trong tương lai.