Tổng quan nghiên cứu

Năm 2020, huyện Bảo Yên đón tổng cộng 500.342 lượt khách du lịch, khẳng định vị thế cửa ngõ kinh tế và văn hóa phía đông của tỉnh Lào Cai. Với diện tích tự nhiên 818,34 km2, địa bàn huyện sở hữu hệ thống tài nguyên thiên nhiên và nhân văn đặc sắc, bao gồm 9 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia gồm Đền Bảo Hà, Đền Phúc Khánh và 1 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Bảo Yên còn là địa bàn quần tụ lâu đời của 25 dân tộc anh em, tạo nên kho tàng văn hóa truyền thống vô cùng phong phú.

Mặc dù có lượng khách đông đảo, thực trạng phát triển du lịch tại huyện Bảo Yên giai đoạn 2018-2020 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Du lịch địa phương phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, phần lớn dòng khách chỉ tập trung vào phân khúc du lịch tâm linh tại Đền Bảo Hà mà chưa lan tỏa sang các điểm du lịch cộng đồng. Thời gian lưu trú của du khách tại huyện rất ngắn, trung bình chỉ dưới 1,2 ngày, mức chi tiêu cho các dịch vụ ăn uống và mua sắm bản địa rất thấp. Bên cạnh đó, tính liên kết giữa các tuyến điểm trong huyện và khu vực lân cận còn rời rạc.

Nghiên cứu hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2018-2020, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất giải pháp đồng bộ thúc đẩy du lịch cộng đồng tại huyện Bảo Yên. Về phạm vi, luận văn sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2018-2020 và số liệu điều tra sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2021-2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo sinh kế bền vững, nâng mức đóng góp của dịch vụ du lịch vào ngân sách huyện và cải thiện đời sống kinh tế cho hơn 70% đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas công bố năm 2000, kết hợp quan điểm du lịch bền vững của Tổ chức Du lịch Sinh thái Xã hội Thái Lan REST năm 1997 và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên WWF. Dưới góc độ quản lý kinh tế, đề tài tiếp cận theo mô hình của Nguyễn Văn Đính năm 2006 và Trần Minh Hòa, xem phát triển du lịch cộng đồng là quá trình gia tăng cả về quy mô, doanh thu lẫn chất lượng dịch vụ dưới sự định hướng, quản lý của chính quyền địa phương.

Khung lý thuyết của nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm then chốt: cộng đồng địa phương, du lịch cộng đồng, sản phẩm du lịch theo Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 và quản lý nhà nước về du lịch. Du lịch cộng đồng được xác định là phương thức tổ chức du lịch do người dân bản địa trực tiếp tham gia quản lý, vận hành và thụ hưởng lợi ích kinh tế, gắn liền với nghĩa vụ bảo tồn tài nguyên sinh thái. Mô hình nghiên cứu tập trung vào 3 nội dung cốt lõi: phát triển bộ máy cán bộ quản lý nhà nước, mở rộng quy mô các cơ sở kinh doanh homestay và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch đặc trưng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo kinh tế xã hội định kỳ của UBND huyện Bảo Yên, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai và Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bảo Yên giai đoạn 2018-2020. Dữ liệu sơ cấp được tác giả tiến hành điều tra thực địa trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm tổng cộng 412 người. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý du lịch, tác giả áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ 12 cán bộ chuyên trách tại Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai và Phòng Văn hóa Thông tin huyện Bảo Yên. Đối với khách du lịch, dựa trên tổng thể 500.342 lượt khách năm 2020, nghiên cứu áp dụng công thức chọn mẫu xác suất Slovin với sai số cho phép 5%, xác định cỡ mẫu đại diện là 400 du khách trong nước, thực hiện qua khảo sát trực tiếp tại điểm đến và phiếu điện tử.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tính toán điểm trung bình theo thang đo Likert 5 mức độ từ 1,0 đến 5,0 điểm của Vũ Cao Đàm năm 2006, kết hợp phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối. Việc lựa chọn phương pháp này giúp lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của du khách, đánh giá khách quan năng lực tổ chức của bộ máy quản lý và xác định rõ mức độ chuyển dịch cơ cấu doanh thu qua từng năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô khách du lịch đến huyện Bảo Yên năm 2020 đạt 500.342 lượt người, nhưng cơ cấu du khách mất cân đối nghiêm trọng. Hơn 92% du khách đến huyện vì mục đích tâm linh tại Đền Bảo Hà, trong khi lượng khách tham gia trải nghiệm du lịch cộng đồng tại các bản làng chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 6,5% tổng lượng khách.

Thứ hai, số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú cộng đồng còn ở mức sơ khai. Toàn huyện chỉ có một số ít hộ dân làm dịch vụ homestay tự phát tại xã Nghĩa Đô và Vĩnh Yên. So sánh với huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang có 24 homestay thu hút 35.000 lượt khách năm 2017 hay thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái có 34 hộ du lịch cộng đồng phục vụ 130.000 lượt khách năm 2019, quy mô dịch vụ lưu trú cộng đồng tại Bảo Yên còn rất hạn chế và manh mún.

Thứ ba, nguồn nhân lực phục vụ du lịch cộng đồng thiếu hụt chuyên môn bài bản. Có tới hơn 82% lao động tham gia phục vụ du khách là lao động thời vụ thuần nông, chưa qua đào tạo kỹ năng nghiệp vụ du lịch. Tỷ lệ nhân lực có chứng chỉ hướng dẫn viên tại điểm hoặc sử dụng được ngoại ngữ cơ bản chỉ đạt dưới 2,5%.

Thứ tư, nguồn vốn đầu tư và ngân sách xúc tiến cho du lịch cộng đồng giai đoạn 2018-2020 chỉ chiếm khoảng 1,8% tổng vốn đầu tư hạ tầng toàn huyện. Đánh giá của du khách qua thang đo Likert về hoạt động quảng bá và hạ tầng giao thông kết nối các bản làng chỉ đạt điểm trung bình từ 2,85 đến 3,12 điểm, thuộc mức phân vân và chưa hài lòng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến du lịch cộng đồng Bảo Yên chậm bứt phá xuất phát từ công tác quy hoạch chưa đồng bộ và tư duy quản lý du lịch còn mang tính thời vụ. Mặc dù sở hữu lợi thế giao thông đắc địa với Quốc lộ 70, Quốc lộ 279 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua, huyện vẫn chưa xây dựng được chuỗi liên kết dịch vụ khép kín từ lưu trú, ẩm thực đến trải nghiệm văn hóa. Giá trị văn hóa bản địa độc sắc của 25 dân tộc, đặc biệt là văn hóa truyền thống của người Tày tại Nghĩa Đô, chưa được chuyển hóa thành các sản phẩm thương mại hoàn chỉnh.

So sánh với bài học của thị xã Nghĩa Lộ khi xây dựng thành công thị xã văn hóa du lịch gắn với 6 điệu xòe cổ, hay huyện Lâm Bình khai thác gói tour một ngày làm nông dân mang lại 21 tỷ đồng doanh thu, Bảo Yên đang bỏ trống phân khúc khách trải nghiệm sinh thái và văn hóa. Để khắc phục, công tác quản lý nhà nước cần chuyển trọng tâm từ khai thác du lịch tâm linh đơn lẻ sang mô hình kinh tế du lịch đa giá trị.

Trong quá trình phân tích thực trạng, các dữ liệu khảo sát có thể được mô tả sinh động qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu du khách theo mục đích chuyến đi và bảng ma trận đối chiếu mức độ hài lòng về 7 nhóm chỉ tiêu phát triển du lịch. Cách trình bày trực quan này giúp cơ quan quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nghẽn hạ tầng để bố trí nguồn vốn can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa và chuẩn hóa các sản phẩm du lịch cộng đồng đặc trưng. Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên cần chủ trì phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai xây dựng 5 mô hình homestay đạt chuẩn tại xã Nghĩa Đô và Vĩnh Yên. Thiết kế các chương trình trải nghiệm như dệt thổ cẩm, chế biến ẩm thực truyền thống và nghề đan lát mây tre. Mục tiêu đến năm 2025 thu hút 85.000 lượt khách trải nghiệm du lịch cộng đồng, nâng thời gian lưu trú bình quân lên 2,0 ngày.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng giao thông và dịch vụ kỹ thuật số tại các điểm đến. Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Bảo Yên cần khẩn trương nâng cấp 100% các trục đường giao thông liên thôn kết nối vào các bản văn hóa du lịch đạt chuẩn bê tông hóa trong giai đoạn 2023-2024. Đồng thời, lắp đặt 15 trạm phát sóng wifi miễn phí và hệ thống biển chỉ dẫn du lịch song ngữ, đảm bảo tối thiểu 90% hộ homestay có công trình vệ sinh khép kín đạt tiêu chuẩn.

Thứ ba, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch cộng đồng chuyên nghiệp. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện phối hợp cùng Trường Cao đẳng Lào Cai tổ chức 12 khóa đào tạo nghiệp vụ buồng, bàn, lễ tân và kỹ năng đón tiếp cho 350 lao động địa phương. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo lên mức 65% vào năm 2025.

Thứ tư, đẩy mạnh quảng bá số hóa và liên kết mạng lưới lữ hành liên tỉnh. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bảo Yên cần liên kết với các doanh nghiệp lữ hành lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng 3 tour du lịch chuyên đề kết nối Đền Bảo Hà với các bản du lịch Nghĩa Đô, Bắc Hà và Sa Pa. Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng doanh thu từ du lịch cộng đồng đạt trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2023-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và công chức chuyên trách tại Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, Ủy ban nhân dân huyện Bảo Yên cùng các phòng ban trực thuộc. Luận văn cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện và bộ dữ liệu định lượng tin cậy, làm cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng đề án phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn 2025-2030.

Thứ hai, các hợp tác xã du lịch, doanh nghiệp lữ hành và các hộ kinh doanh dịch vụ homestay tại tỉnh Lào Cai. Kết quả nghiên cứu đưa ra những gợi ý cụ thể về thiết kế sản phẩm du lịch bản địa, cách thức quản lý chi phí và nâng cao chất lượng phục vụ du khách để gia tăng lợi nhuận bền vững.

Thứ ba, các công ty lữ hành và điều hành tour du lịch trên phạm vi toàn quốc. Báo cáo phân tích hành vi của 400 du khách là nguồn thông tin thị trường hữu ích, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng các tuyến tour mới kết hợp linh hoạt giữa du lịch tâm linh và du lịch sinh thái cộng đồng.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản trị dịch vụ du lịch. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp chọn mẫu Slovin từ tổng thể 500.342 khách, kỹ thuật thiết kế thang đo Likert và quy trình xử lý số liệu điều tra thực tiễn cấp huyện.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất của du lịch cộng đồng tại huyện Bảo Yên giai đoạn 2018-2020 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối về cơ cấu sản phẩm. Năm 2020 huyện đón hơn 500.000 lượt khách nhưng trên 92% chỉ tập trung đi lễ Đền Bảo Hà rồi về trong ngày. Dịch vụ du lịch cộng đồng tại các xã như Nghĩa Đô còn nhỏ lẻ, khiến thời gian lưu trú bình quân dưới 1,2 ngày và đóng góp ngân sách chưa tương xứng.

Nghiên cứu xác định cỡ mẫu khảo sát du khách dựa trên căn cứ khoa học nào? Dựa trên tổng lượng khách năm 2020 là 500.342 lượt, tác giả áp dụng công thức chọn mẫu xác suất Slovin với sai số 5% và độ tin cậy 95%. Kết quả tính toán cho ra cỡ mẫu đại diện là 400 du khách trong nước, kết hợp với khảo sát toàn bộ 12 cán bộ chuyên trách du lịch, đảm bảo tính đại diện khoa học cao.

Mô hình du lịch cộng đồng tại Lâm Bình và Nghĩa Lộ mang lại bài học kinh nghiệm gì cho Bảo Yên? Kinh nghiệm từ 24 homestay thu 21 tỷ đồng tại Lâm Bình và 34 hộ du lịch cộng đồng tại Nghĩa Lộ cho thấy cốt lõi nằm ở việc giữ gìn bản sắc. Bảo Yên cần học tập cách đóng gói nét văn hóa của 25 dân tộc thành các sản phẩm trải nghiệm như một ngày làm nông dân và bảo tồn các làn điệu xòe, then truyền thống.

Thang đo Likert 5 mức độ được ứng dụng thế nào trong phân tích thực trạng? Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 bậc điểm từ 1,0 đến 5,0 điểm theo tiêu chuẩn của Vũ Cao Đàm. Thang đo này cho phép tính điểm trung bình cho từng tiêu chí quản lý, hạ tầng và xúc tiến, từ đó chỉ ra các tiêu chuẩn chỉ đạt từ 2,85 đến 3,12 điểm để huyện ưu tiên đầu tư khắc phục.

Mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng tại Bảo Yên đến năm 2025 được xác định ra sao? Luận văn đề xuất huyện Bảo Yên phấn đấu thu hút 85.000 lượt khách trải nghiệm cộng đồng, kéo dài thời gian lưu trú lên 2,0 ngày, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghiệp vụ du lịch lên trên 65% và duy trì mức tăng trưởng doanh thu từ dịch vụ cộng đồng đạt trên 20% mỗi năm.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Công Hữu mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật thông qua 5 kết luận trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch cộng đồng dưới góc độ quản lý kinh tế nhà nước cấp huyện.
  • Phân tích sâu sắc dữ liệu thực trạng giai đoạn 2018-2020 trên quy mô 500.342 lượt khách và địa bàn tự nhiên 818,34 km2.
  • Ứng dụng quy trình nghiên cứu định lượng chuẩn mực qua điều tra 412 cá nhân bằng công thức chọn mẫu Slovin và thang đo Likert.
  • Làm rõ nguyên nhân cản trở và bài học thực tiễn rút ra từ các mô hình thành công tại Tuyên Quang và Yên Bái.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, có lộ trình rõ ràng về sản phẩm, hạ tầng, nhân lực và xúc tiến số hóa.

Trong giai đoạn 2023-2025, chính quyền địa phương cần khẩn trương ban hành các cơ chế hỗ trợ nguồn vốn và chuẩn hóa các bản văn hóa du lịch cộng đồng. Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp hãy khai thác ngay những phát hiện của luận văn để đưa du lịch Bảo Yên phát triển bền vững và thịnh vượng.