Chương 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỀN VẺ DU LỊCH TIÉP CẬN DÀNH CHO NGƯỜI KHUYÉT TẬT.1 Một số khái niệm về du lịch Mặc dù các khái niệm và thuật ngừ này không có liên quan trực tiếp tới đề tài nhưng cũng có mối liên hệ gián tiếp đến toàn bộ nội dung nghiên cứu. Nguyên nhân chính là nghiên cứu này đặt NKT như là một khách hàng của du lịch và do đó, nliừng khái niệm về du lịch, các loại hình và sản phẩm du lịch đều có liên quan đến cách mà NKT có thể sử dụng cho hoạt động tham quan, vui chơi giải trí của mình.1 Du lịch Theo luật du lịch năm 2017, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cứ trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dường, giải trí, tìm liiêu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (Nguồn: www. Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), du lịch là các hoạt động của các cá nhân đi tới một nơi ngoài môi trường sống thường xuyên (nơi sinh hoạt 15 hàng ngày của mình) trong thời gian không quá một năm liên tục với mục đích chính của chuyến đi không liên quan tới hoạt động kiểm tiền nơi họ đến. Theo một số khái niệm từ tài liệu tổng quan du lịch: “Du lịch là một hiện tượng: trước thế kỷ 19 đến tận đầu thế kỷ 20 du lịch hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quỷ tộc và người ta chỉ coi đây như là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội.
Trong thời kì này kỳ này, ngưòi ta coi du lịch như một hiện tượng xà hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức của con người. Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhỉều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm và ờ đó họ phải tiêu tiền mà họ đà kiếm được ờ nơi khác. Các giáo sư Thụy Sĩ là Hunziker và Krapf đã khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nây sinh từ việc đi lại và lun trú của nhùng người ngoài địa phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào” [9, tr. Du lịch là một hoạt động: “Theo Mill và Morrison du lịch là hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất hai mươi bốn giờ nhưng không quá một năm.
Như vậy, có thê xem xét du lịch thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi. Du lịch có thê được hiêu “ là hoạt động của con ngưòi ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định” [9, tr.2 Khách du ỉịch Theo luật du lịch năm 2017, khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ờ nơi đến. Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tể đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ờ Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ờ nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài 16 cư trú ờ Việt Nam đi du lịch nước ngoài. Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Roma (1963) thống nhất quan niệm về khách du lịch quốc tế và nội địa, sau này được tổ chức du lịch thế giới WTO (World Tourism Organization) chính thức thừa nhận: “Khách du lịch quốc tế: (International Tourist) là những người lun trú ít nhất là một đêm nhưng không quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động đê được trả lương ở nơi đến. Khách du lịch nội địa: (Domestic tourist) là một người đang sổng trong một quốc gia, không kể quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó trong khoảng thời gian ít nhất hai mươi bốn giờ và không quá một năm với các mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ờ nơi đến” [9, tr 11].3 Sản phẩm du lịch Theo luật du lịch năm 2017 thì sản phâm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sờ khai thác giá trị tài nguyên du lịch đê thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Theo tài liệu tông quan du lịch: “Sản phẩm du lịch bao gồm các địch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỳ thuật và lao động đu lịch tại một vùng, một địa phương nào đó.
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hừu hình (hàng hóa) và những yếu tồ vô hình (dịch vụ) đê cung cấp cho du khách hay nó bao gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch. Sân phàm du lịch bao gồm tài nguyên du lịch và các dịch vụ và hàng hóa du lịch” [9, tr 12]. Bất kỳ sân phàm du lịch nào cũng nhằm thôa mãn nhu cầu của khách du lịch. Sản phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ, có thể là sân phẩm tổng hợp, do một đơn vị cung ứng trọn gói hay do nhiều đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng.
“Sản phẩm đơn lẻ: Là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thỏa mãn một nhu câu cụ thê của khách. Sản phâm tông hợp là sản phàm nhằm thỏa mãn đồng thời một nhóm nhu cầu mong muốn của khách du lịch. Các dịch vụ trung gian là các dịch vụ phối hợp các dịch vụ đơn lẻ thành dịch vụ tông hợp và thương mại hóa chúng, sân phẩm du lịch gồm nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau, do các doanh nghiệp khác nhau đảm nhận” [9, tr 12,13]. 17 Dịch vụ thu gom sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh.
Tức là xây đựng các chương trình du lịch từng phần hay trọn gói. Dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch cung cấp thông tin và bán lẻ các sản phẩm du lịch trực tiếp cho du khách, khách du lịch tự tổ chức lấy chuyến đi. Sản phẩm du lịch chủ yếu thỏa màn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du khách. Mặc dù trong suốt chuyến đi họ phải thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu như ăn, ờ, đi lại.
Tuy nhiên mục đích chính là thỏa mãn các nhu cầu đặc biệt. Do đó nhu cầu du lịch chi được đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rồi, và có thu nhập cao. Người ta sè đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và ngược lại sẽ bị cắt giảm nếu thu nhập giảm xuống. Sản phẩm du lịch có đầy đủ bốn đặc điểm của dịch vụ, đó là: Tính vô hình: “sản phàm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thê).
Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thê. Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Tuy nhiên sản phẩm du lịch là không cụ thê nên rất dề dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí phòng đón tiếp. Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hóa”.
Tính không đồng nhất: “Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sân phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm. Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là rất quan trọng”. Tính đồng thời giữa sân xuất với tiêu dùng: “Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng. Do đó không thể đưa sân phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phâi tự đến nơi sản xuất ra sân phẩm du lịch”.
Tính mau hỏng và không dự trữ được: “sản phâm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống. Do đó về cợ bản sản phẩm du lịch khỏng thể tồn kho, dự trừ được và rất dễ bị hư hỏng” [9, tr.4 Điểm du lịch và khu du lịch Diêm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch. 18 Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triên nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia.5 Cơ sở hạ tầng, vật chất, kĩ thuật ngành du lịch.
Cơ sờ hạ tầng, vật chất, kĩ thuật ngành du lịch có thế được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng: là toàn bộ các phương tiện vật chất, kỳ thuật được huy động vào việc tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra các dịch vụ và sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Còn theo nghía hẹp thì cơ sờ vật chất, kỳ thuật du lịch là toàn bộ các phương tiện vật chất, kỳ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra tạo ra các sân phẩm để khai thác tiềm năng và thỏa mãn nhu cầu của du khách. Cơ cỡ hạ tầng, vật chất và kì thuật ngành du lịch bao gồm vận chuyển du lịch, cơ sờ lưu trú, nhà hàng và dịch vụ vui chơi, giải trí và dịch vụ bổ sung.
Vận chuyển du lịch Du lịch gắn liền với qua trình di chuyển trong suốt các chuyến đi, Vì vậy mà vận chuyển du lịch là không thể thiếu đối với ngành du lịch. Tham gia vào quá trình vận chuyên du lịch có các phương tiện như: Đường bộ, đường hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa, đường biển chuyên phục vụ khách du lịch theo chương trình du lịch, khu du lịch, điểm du lịch. Mồi loại phương tiện lại có một ưu và nhược điểm khác nhau, điều này sẽ phù hợp với từng hành trình có khoảng cách, nhu cầu và chi phí nhất định.