mở đầu cho dòng Thiền tông giáo ngoại biệt truyền vào Việt Nam, dòng Thiền này truyền đƣợc 19 thế hệ. Dòng thiền tu thứ hai do Thiền sƣ Vô Ngôn Thông, ngƣời Trung Quốc truyền sang vào thế kỷ IX. Năm 820 Vô Ngôn Thông đã qua Việt Nam và đã ở chùa Kiến Sơ (làng Phù Đổng – Tiên Đức – Bắc Ninh) bắt đầu truyền bá giáo lí. Ngƣời kế nghiệp ông là Cảm Thành, dòng Thiền này truyền đƣợc 17 đời.
Dòng thiền thứ ba do Thảo Đƣờng, ngƣời Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và đƣợc vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho truyền đạo tại chùa Khai Quốc (nay là chùa Trấn Quốc - Hà Nội) vào năm 1069. Đệ tử theo học rất đông trong đó có cả chính vua Lý Thánh Tông, lập nên dòng Thiền thứ ba truyền đƣợc 6 đời. Thiền tông thời Lý mang một đặc trƣng dễ nhận thấy đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn đạo Thiền với Nho giáo, Tịnh Độ tông. Sang thời Trần có vua Trần Nhân Tông từng nghiên cứu về Phật học dƣới sự hƣớng dẫn của thiền sƣ Tuệ Trung Thƣợng Sỹ.
Sau khi ngài xuất gia năm 1299 đã lên tu trên núi Yên Tử, đã thống nhất các Thiền phái tồn tại trƣớc đó ở Việt Nam và lập nên Thiền phái Trúc Lâm – dòng Thiền của ngƣời Việt Nam với ông tổ là ngƣời Việt Nam. Các sƣ Pháp Loa, Huyền Quang, là tổ thứ hai, thứ ba của Thiền phái này. Sau này, ở Việt Nam còn xuất hiện một số thiền phái khác từ Trung Hoa sang nhƣ Tào Động (thời Trịnh - Nguyễn), phái Liên Tôn (thế kỷ XVI-XIX), phái Liễn Quán (thế kỷ XVIII) và phái Lâm Tế (thời Nguyễn). Khái niệm Thiền Thiền là từ chữ Hán, đọc đủ là Thiền na, có xuất xứ từ tiếng Pàli Jhàna, có nghĩa là gom tâm lại, nhiếp tâm lại.
Tuy nhiên, ngữ căn Jhà lại có liên quan đến ý nghĩa thiêu đốt. Về sau, về phía Trung hoa, ngƣời ta gán thêm từ phía sau nhƣ Thiền quán, Thiền định, Thiền tọa, Thiền tông, Thiền khách, Thiền đƣờng, Thiền Nguyễn Thị Phương – VH 1002 8 Du lịch Thiền – Hiện trạng và giải pháp phát triển ở Quảng Ninh sƣ…Ít ai dùng cả hai âm Thiền na nhƣ xƣa. Tuy nhiên, ý nghĩa chính của Thiền vẫn là sự thực hành đƣa đến tâm trí an tĩnh, không xuất hiện ý nghĩ, không dấy động tình cảm, và vẫn sáng suốt. Ngƣời ta vẫn liên hệ Thiền với tƣ thế ngồi kiết già bất động vì từ đức Phật cho đến các vị thánh nhân đều ngồi Thiền với tƣ thế đó.
Sự phát triển rộng hơn cho phép ngƣời ta thực hành Thiền khi đi bộ thong thả, đúng phƣơng pháp. Còn đối với những ngƣời có khả năng giữ đƣợc tâm, kiểm soát tâm thƣờng xuyên thì đƣợc gọi là ngƣời biết Thiền trong bốn oai nghi đứng đi nằm ngồi. Thiền đƣợc định nghĩa với nhiều cách khác nhau nhƣ sau: Định nghĩa Thiền là công việc làm an định: Nếu định nghĩa Thiền là một công việc làm an định nội tâm thì Thiền là một động từ. Đó là sự thực hành, sự tu tập của nội tâm, không mang ý nghĩa hành động của thân thể bên ngoài.
Nếu có những phƣơng pháp kết hợp việc tu tập nội tâm với các động tác của cơ thể thì các động tác đó cũng chỉ là phụ, việc thực hành bên trong tâm mới là điểm chủ yếu. Ví dụ nhƣ kinh hành ( Thiền đi), trà đạo (Thiền uống trà), cung đạo (Thiền bắn cung)… Khi nói rằng Thiền trong mọi oai nghi, mọi hoàn cảnh có nghĩa là luôn cố gắng làm cho tâm đƣợc thanh tịnh trong khi đang làm việc hay đang giải quyết công việc bên ngoài. Hành giả phải giống nhƣ chia tâm ra làm hai, một dành để giải quyết công việc, một dành để kiểm soát tâm. Tuy cực khổ,nhƣng công đức tu hành nhƣ vậy rất sớm.
Định nghĩa Thiền là trạng thái của một nội tâm an định: định nghĩa thứ hai này cho Thiền có ý nghĩa một danh từ. Đó là một trạng thái nội tâm đã thay đổi khác với lúc còn xao động. Tuy nhiên tùy theo mức độ bớt vọng tƣởng mà tâm sẽ có những trạng thái khác nhau. Không bao giờ Thiền có nghĩa là nội tâm yên lắng và mờ mịt.
Thiền luôn luôn phải vừa không vọng tƣởng, vừa tỉnh giác. Đó là lý do tại sao khi bắt đầu tu tập Thiền chúng ta phải tập biết toàn thân, biết hơi thở, biết nội Nguyễn Thị Phương – VH 1002 9 Du lịch Thiền – Hiện trạng và giải pháp phát triển ở Quảng Ninh tâm….Vọng tƣởng đƣợc hóa giải, đƣợc kiểm soát bởi cái biết chứ không phải bởi sự tránh né hay che lấp. Ƣu điểm của việc biết rõ vọng tƣởng là càng đi sâu, ta càng phát hiện những sai lầm trong đạo đức của mình để sửa chữa. Nhƣng phƣơng pháp tránh né hay che lấp thì không có đƣợc ƣu điểm này.
Định nghĩa Thiền là cả một đời sống đẹp: với định nghĩa thứ ba, Thiền là một bức tranh tổng thể của một đời sống tốt đẹp trên nhiều phƣơng diện. Dĩ nhiên căn bản của Thiền vẫn là một nội tâm an tĩnh, nhƣng ngƣời ta vẫn đòi hỏi Thiền cũng phải là cả một đời sống thánh thiện, chuẩn mực, mà vẫn ung dung, đầy trí tuệ, khôn ngoan. Thiền là một thuật ngữ đƣợc nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phƣơng pháp tu tập khác nhau, nhƣng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”. Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hƣớng dẫn con ngƣời đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, nhƣ là một hồ nƣớc mà ngƣời ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nƣớc không bị xao động.
Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sƣ ngƣời Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về thế nào là Thiền:"Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tƣởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng nhƣ nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu." Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể miêu tả và phải do mỗi ngƣời tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả - kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã đƣợc các vị thánh nhân xƣa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và miêu tả bằng nhiều cách.
Đó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết- bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một Nguyễn Thị Phương – VH 1002 10 Du lịch Thiền – Hiện trạng và giải pháp phát triển ở Quảng Ninh phƣơng pháp đƣa con ngƣời đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con ngƣời khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện. Thiền là tỉnh thức để nhận biết tất cả nhƣng không bị mắc vào sự yêu ghét và thản nhiên trƣớc mọi mọi việc. Sống Thiền là buông bỏ mọi ràng buộc, mọi định kiến, thói quen, khuynh hƣớng, các gò bó tâm khiến con ngƣời cảm thấy khổ và qua đó ta trở nên thực sự minh mẫn và đƣợc sống tự do, thoải mái trong sự hoà đồng với tự nhiên.
Thiền thực chất là đơn giản hơn mọi ngƣời thƣờng nghĩ. Hầu hết chúng ta đều đã ít nhiều trải qua khoảnh khắc của Thiền. Đó là những khi chúng ta một cách vô thức hoàn toàn tập trung cao độ vào một việc gì đó và lắng nghe đƣợc hơi thở của mình, hay dƣờng nhƣ nín thở. Khi đó, vô hình chung chúng ta đã giải phóng trí não khỏi toàn bộ những ý nghĩ lộn xộn vốn thƣờng xuyên xâm chiếm tâm trí.
Ngày nay chúng ta tiêu hao năng lƣợng chủ yếu do việc suy nghĩ, do tƣ duy và tâm trí nhiều lúc bị tràn ngập những tạp niệm bởi tâm trí không theo sự kiểm soát của lý trí. Đó là nguyên nhân chủ yếu làm cho chúng ta cảm thấy mệt mỏi căng thẳng, khiến trong lòng bất an và ở mức độ trầm trọng hơn là dẫn đến những chứng bệnh có nguyên nhân sâu xa do yếu tố thần kinh, nhƣ bệnh trầm cảm, bệnh dạ dày, bệnh tim mạch.Thiền là kỹ thuật để chúng ta luyện và làm chủ cả thân và tâm. Trong Phật giáo, chữ Thiền đƣợc dùng để chỉ định hai cách thực tập. Đó là “Thiền định” (samatha), và “Thiền Minh Sát” (Vipassana ).
Thiền định (Samatha) là cách tập trung tƣ tƣởng vào một sự vật và không để bị chi phối bởi gì khác. Đây là cách tập thích hợp cho ngƣời mới tập thiền. Thiền Vipassana (Minh Sát) hoặc “Thiền quán” là kỹ thuật thiền khoa học và độc đáo của Phật giáo nguyên thủy. Trong thiền Vipassana ngƣời tập chỉ cần sống trọn vẹn với giây phút thực tại, không cần phải chọn đề mục đặc biệt để tập chú tâm, hoặc phải hòa nhập với chúng.Với phƣơng pháp này, chỉ cần chú tâm, tỉnh thức để quan sát mọi hiện tƣợng mà không kèm theo một định kiến chủ quan về nó cũng nhƣ không chủ động tác ý lên sự vật đang Nguyễn Thị Phương – VH 1002 11 Du lịch Thiền – Hiện trạng và giải pháp phát triển ở Quảng Ninh quan sát để hiểu đúng bản chất nhƣ nó là.
Thiền Vipassana là một trạng thái tỉnh thức, nhận biết rất rõ ràng bất cứ ý niệm, tình cảm hay cảm giác nào từ tất cả các giác quan đang khởi lên mà không có phản ứng gì. Thiền và Yoga Thiền và Yoga là liệu pháp hữu hiệu để cân bằng giữa cuộc sống vật chất và tinh thần, giải quyết những vấn nạn, những căn bệnh chung của thời đại. Thiền và yoga vốn xuất phát từ Phƣơng Đông nhƣ các phƣơng pháp tập luyện để đƣa con ngƣời tiến tới giác ngộ giải thoát hay hoà đồng với vũ trụ, nhƣng ngày nay đã phổ biến khắp trong tất cả các lĩnh vực của cuôc sống nhƣ một môn thể thao để rèn trí não và thân thể. Ngoài việc để tăng cƣờng sinh lực, có đƣợc cuộc sống quân bình, giữa đời sống vật chất và tinh thần, tại các nƣớc phát triển Thiền và Yoga đang đƣợc áp dụng một cách rộng rãi nhƣ một liệu pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu suất lao động trí óc trong mọi giới, từ chính khách, đến nghệ sĩ, doanh nhân, công chức.
Yoga là gì?