CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH TÂM LINH 1. Tổng quan về du lịch tâm linh 1. Khái quát về du lịch tâm linh 1.
Khái niệm văn hóa tâm linh Tâm linh là một hình thái ý thức của con người, gắn với những ý niệm cao cả, những niềm tin thiêng liêng không chỉ trong đời sống tôn giáo mà cả đời sống tinh thần, đời sống xã hội. Tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “Văn hóa tâm linh” khẳng định: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều thiêng liêng cao cả được thể hiện qua những hình ảnh, biểu tượng, ý niệm. Từ khái niệm về tâm linh, tác giả Nguyễn Đăng Duy đưa ra quan niệm về “văn hóa tâm linh”.
Theo đó, “văn hóa tâm linh là một hoạt động văn hóa xã hội của con người, được biểu hiện ra những khía cạnh vật chất và tinh thần, mang những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện nhận thức, thái độ (e dè, sợ hãi hay huyền diệu) của con người”. Trong cuộc sống ai cũng có những niềm tin vào những điều linh thiêng, cao cả và chính niềm tin ấy là biểu hiện rõ ràng nhất của văn hóa tâm linh trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng. Nó giúp con người sống hướng thiện, hành động và suy nghĩ tốt đẹp hơn. Nó cũng giúp xoa dịu những đau thương mất mát, đem lại niềm tin vào cuộc sống tươi đẹp, công bằng, bình đẳng và bác ái.
Vì lẽ đó văn hóa tâm linh tạo nên chiều sâu cho nền văn hóa dân tộc. Khái niệm du lịch tâm linh Hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất về du lịch tâm linh. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là du lịch tâm linh khai thác yếu tố văn hóa tâm linh, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác làm cơ sở và mục tiêu để thảo mãn đời sống tinh thần của con người. Do đó, du lịch tâm linh và văn hóa tâm linh có mối liên hệ chặt chẽ.
Chính văn hóa tâm linh là động lực để phát triển du lịch tâm linh. 4 Nếu bóc tách cụm từ “du lịch tâm linh”, có thể thấy rằng du lịch tâm linh là sự kết hợp của hoạt động du lịch và yếu tố tâm linh trong chuyến hành trình. Một mặt, du khách đi tham quan, thưởng ngoạn, học hỏi, mặc khác, kết hợp với việc hành hương, cúng bái, lễ phật, tham gia các lớp học thiền, nghe giảng đạo hay tham gia vào các lễ hội dân gian, gửi gắm tâm hồn vào các đấng thiêng liêng, những nơi thờ tự như chùa chiền, đình, đền, miếu mạo và các chốn linh thiêng khác. Cựu Tổng thống Ấn Độ, tiến sĩ Abdul Kalam cũng đã từng phát biểu: “Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng bằng trái tim”.
Chính yếu tố tâm linh giúp khách du lịch cảm thấy bình an, tâm hồn trong sạch và hướng thiện. Và không dừng lại ở đó, “Du lịch tâm linh vốn không chỉ là hoạt động hành hương, tôn giáo, tín ngưỡng thuần túy và còn là động lực thúc đẩy sự giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế – xã hội”. Điều đó có nghĩa là du lịch tâm linh giúp thực hiện nhiều chức năng xã hội, góp phần cải thiện đời sống không chỉ tinh thần mà cả đời sống vật chất của con người. Hiện nay, song song tồn tại một số khái niệm như du lịch hành hương, du lịch tôn giáo, du lịch lễ hội.
Vấn đề đặt ra là những loại hình du lịch trên là riêng biệt hay chỉ là một bộ phận của du lịch tâm linh. Du lịch tôn giáo là loại hình du lịch “nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các đạo giáo khác nhau”. “Đó là các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện các nghi lễ tôn giáo của các tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo”. Trong đó, khách du lịch chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thực hiện các nghi lễ tôn giáo hoặc tìm hiểu, nghiên cứu về các hoạt động tôn giáo.
Du lịch hành hương là “loại hình du lịch hành hương đến các vùng đất thánh cổ xưa, đến các đền thờ”. Du lịch lễ hội là loại hình du lịch mà mục đích chính của chuyến đi là “tham gia vào các lễ hội được tổ chức ở một địa danh nổi tiếng nào đó, qua đó nâng cao hiểu biết về văn hóa, và tăng cường, mở rộng quan hệ giao tiếp. Lễ hội có thể là: lễ hội truyền thống, festival chuyên đề, liên hoan phim, âm nhạc. Với du lịch tôn giáo và du lịch hành hương, yếu tâm linh là yếu tố quan trọng và chi phối.
Do đó, du lịch tôn giáo và hành hương có thể coi là một hình thức đặc thù của du lịch tâm linh. Tuy nhiên, loại hình du lịch lễ hội cần thiết phải xét đến 5 Thang Long University Library tính chất của lễ hội. Với những lễ hội truyền thống, dân gian thể hiện phong tục, tập quán, tín ngưỡng tốt đẹp, du lịch lễ hội là một phần của du lịch tâm linh. Trái lại, với những lễ hội hiện đại như lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội festival chuyên đề., mặc dù vẫn thu hút một lượng không nhỏ khách du lịch nhưng mục đích chính của các lễ hội này không phải thỏa mãn nhu cầu tâm linh.
Do đó, không thể xem du lịch lễ hội đó là một phần của du lịch tâm linh. Tóm lại, du lịch tâm linh là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và tham gia các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, các lễ hội tâm linh của khách du lịch. Trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp, tôi sẽ nghiên cứu du lịch tâm linh bao gồm cả du lịch tôn giáo, du lịch hành hương và du lịch lễ hội với các lễ hội mang yếu tố tâm linh. Đặc trưng du lịch tâm linh Du lịch tâm linh cũng là một sản phẩm du lịch.
Do đó, nó mang đầy đủ những đặc trưng của một sản phẩm du lịch. Du lịch tâm linh có tính tổng hợp. Nó là sự kết hợp của nhiều yếu tố không thể tách rời, sự tham gia của nhiều đơn vị cá nhân, doanh nghiệp. Nó không thể cất trữ do tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng.
Do đó, các doanh nghiệp và cơ quan ban ngành luôn phải chú ý vấn đề hạn chế tính mùa vụ và thu hút được một lượng du khách một cách ổn định và bền vững. Du lịch tâm linh gắn với tài nguyên du lịch tâm linh. Đó là các di tích lịch sử, công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, ẩm thực chay. Mặt khác, sản phẩm du lịch tâm linh có những đặc trưng riêng.
Nó mang nặng dấu ấn của cộng đồng cư dân bản địa bởi các tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội truyền thống luôn gắn liền với cư dân một vùng miền, thể hiện lối sống và cách nghĩ, nét văn hóa riêng biệt của họ. Nói cách khác, cư dân bản địa gửi gắn niềm tin, mơ ước, nếp nghĩ, cách giáo dục và khát vọng qua các lễ hội và phong tục. Bởi vì gắn với tín ngưỡng, tôn giáo, các giá trị văn hóa tốt đẹp được lưu truyền từ đời này sang đời khác, những nghi thức, lễ hội dân gian nên các sản phẩm du lịch tâm linh có tính bền vững và bất biến cao. Nhưng cũng chính vì đặc tính này, vấn đề đặt ra là rất khó để đổi mới sản phẩm du lịch tâm linh bởi đổi mới có thể làm sai lệch đi giá trị văn hóa tâm linh.
6 Như bao sản phẩm du lịch khác, du lịch tâm linh có tính mùa vụ. Tại Việt Nam, tính mùa vụ của du lịch tâm linh thể hiện khá rõ và chịu ảnh hưởng của quan điểm sống từ xa xưa. Lễ hội truyền thống chủ yếu tập trung vào mùa xuân, đặc biệt là tháng giêng. Việc cúng bái tổ tiên, đi lễ chùa phổ biến vào ngày mùng một và ngày mười lăm theo lịch âm.
Du lịch tâm linh gắn với tôn giáo, tín ngưỡng. Tại Việt Nam, du lịch tâm linh có một số đặc tính riêng gắn với tôn giáo và tín ngưỡng của người Việt. Bắt nguồn từ văn hóa “uống nước nhớ nguồn”, du lịch tâm linh gắn với tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng dân tộc, những người có công với cách mạng, những người có công lập đất, lập làng (Thành hoàng làng). Bên cạnh đó, du lịch tâm linh còn gắn với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thể hiện lòng biết ơn với các đấng sinh thành.
Các nguyên lý phát triển du lịch tâm linh Di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) được xác định là bộ phận quan trọng cấp thành môi trường sống của con người. Di sản văn hóa là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh), sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự đầu tư không đúng mức, sự khai thác không có sự kiểm soát chặt chẽ và cuối cùng là việc tôn tạo, bảo tồn, trùng tu, tổ chức bảo quản, tu bổ, phục hồi tôn tạo di tích là một công việc quan trọng đối với tất cả các di tích. Công tác này nhằm phòng ngừa, hạn chế và bảo vệ các di tich trước sự tác động của môi trường tự nhiên và trước những hoạt động của con người, giúp cho các di tích đảm bảo tính nguyên gốc và nhiều mặt như: vị trí, cấu trúc, chất liệu, vật liệu kỹ thuật truyền thống…để bảo vệ và phát huy giá trị của di tích một cách tốt nhất. Cần nhận thức rõ và đúng vai trò của công tác bảo tồn, tôn tạo.
tiếp tục bảo tồn, tôn tạo các di tích còn sót lại theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước và Luật di sản. Tiếp tục làm tốt công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa vật thể và đầu tư vào hoạt động nghiên cứu, sưu tầm bảo tồn và phát huy các giái trị văn hóa phi vật thể và ưu tiên hàng đầu là công tác bảo vệ và phát huy các mặt giá trị tiêu biểu của di tích.