Chương 1: Tổng quan về du lịch tâm linh ở Lạng Sơn Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tâm linh tại Lạng Sơn Chương : Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch tâm linh tỉnh Lạng Sơn. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH TÂM LINH Ở LẠNG SƠN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Tâm linh: là một phần đời sống tinh thần của con người.
Là sự hội tụ thế giới vật chất, đẩy lên một mức cao hơn, trở thành niềm tin mang yếu tố tinh thần chủ đạo để góp phần điều chỉnh suy nghĩ và hành động của con người. Với góc nhìn Phật giáo về thuật ngữ "tâm linh", Đại đức Thích Quảng Truyền (Ủy viên Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Phó Trưởng Ban Thường trực Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Lạng Sơn) cho rằng: tâm là bản chất, bản tính của mỗi con người. Nói như Đức Phật Thích Ca thì "tâm" là bản ngã, là cái tôi và tâm sẽ quyết định mọi sự thiện ác, tốt xấu. Tâm sẽ dẫn dắt hành động, lời nói và "tâm" sẽ là chủ, quyết định cho nhân cách của mỗi chúng ta.
"Linh" là cái biết, là sự phân biệt. Từ "tâm" và "linh" thường dùng chung như là sự bổ khuyết cho nhau. Tâm linh là cái tâm hiểu biết, phân biệt, là cái ta, cái bản ngã sơ khởi của mỗi con người. Nhà nghiên cứu Minh Chi, trong bài viết “Phật giáo và Tâm linh” cho rằng: Từ “tâm linh” nói chung có thể được hiểu theo hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất: “tâm linh” ám chỉ những gì cao cả nhất, sâu sắc nhất trong tâm người. Đó là hàm ý của từ tâm linh, hay linh thiêng. Nghĩa thứ hai: từ “tâm linh” là cách gọi khác của của từ “linh hồn”, cái thường được hiểu là nguyên lý thống nhất của sự sống trong mỗi người chúng ta. Tâm linh chính là một biểu hiện trong đời sống tinh thần của con người, với tất cả sự phong phú, phức tạp của nó.
Không nên đơn giản hóa tâm linh là mê tín dị đoan, song cũng không nên “thần bí hóa”, “ghê gớm hóa” khái niệm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tâm linh, gán cho nó những đặc tính cao siêu, phi thường, coi đó là cứu cánh của nhân loại, của khoa học. Dựa vào cách tiếp cận của những nhà nghiên cứu đi trước “Tâm linh là niềm tin và ước vọng của con người đối với các đối tượng siêu hình mà người ta hướng tới” (Theo tác giả Dương Văn Sáu) 1. Văn hóa tâm linh: tất cả những biểu hiện về ứng xử liên quan đến đời sống tâm linh của con người tạo nên văn hóa tâm linh. Văn hóa tâm linh là một khái niệm đồng thời là một phạm trù huyền ảo, luôn không xác định được biên giới cả về không gian và thời gian nhưng luôn được con người ta nể sợ và tin theo.
Từ nghiên cứu thực tế: “Văn hóa tâm linh là cách thức ứng xử của con người đối với các khía cạnh của đời sống tâm linh trong những không gian và thời gian xác định nhằm đáp ứng những nhu cầu nào đó của con người”. Văn hóa tâm linh luôn thường trực trong mỗi con người. Nó phụ thuộc vào giới tính, lứa tuổi, tôn giáo, nghề nghiệp, địa vị xã hội của các cá nhân. Đồng thời văn hóa tâm linh cũng phụ thuộc vào không gian, thời gian môi trường xuất hiện và tồn tại.
Du lịch: là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Du lịch văn hóa: là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Du lịch tâm linh: Du lịch tâm linh trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có những quan niệm khác nhau và đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất. Tuy nhiên xét về nội dung và tính chất hoạt động, du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh (đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng…) làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong đời sống tinh thần.
Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh là du lịch khai thác giá trị văn hóa tâm linh tạo thành sản phẩm du lịch đặc thù phục vụ nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức, khám phá, trải nghiệm của du khách đối với những điều mới lạ của loại hình này. Khái quát về Lạng Sơn Nằ m ở cửa ngõ phía Đông Bắ c của Tổ quố c , Lạng Sơn có vị thế quan trọng trong tiế n trình dựng nước và giữ nước của dân tô ̣c. Vùng đất này ngoài nh ững danh thắ ng nổ i tiế ng như núi tươ ̣ng Nàng Tô Thi ̣ , đô ̣ng Nhi ̣ - Tam Thanh, Chùa Tiên, khu du lich ̣ nghỉ mát Mẫu Sơn , hê ̣ thố ng hang đô ̣ng ở Bình Gia , Bắ c Sơn và Chi Lăng. còn có nhiều địa danh đã đi vào lịch sử dân tộc với nhữ ng chiế n công lẫy lừng như ải Nam Quan , ải Chi Lăng , Bắ c Sơn, Thấ t Khê, Đường 4 anh hùng.
Không những thế , Lạng Sơn còn là mảnh đất nổi tiếng có bề dày truyền thống văn hoá với những câu ca dao, điê ̣u then, câu sli - lươ ̣n làm say đắ m lòng người; nơi hô ̣i tụ nhiều lễ hội độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc , những chơ ̣ phiên đông đúc, vừa là nơi buôn bán , vừa là nơi giao lưu văn hoá giữa miề n xuôi và miề n ngươ ̣c , giữa các dân tộc trong và ngoài tỉnh. Được các nhà khoa ho ̣c xác đinh ̣ là mô ̣t trong những nơi đinh ̣ cư của người Viê ̣t cổ , Lạng Sơn đã bắt đầu hình thành ngay từ thuở các vua Hùng dựng nước. Huyê ̣n Biǹ h Gia của La ̣ng Sơn ngày nay đươ ̣c xem là mô ̣t trong những cái nôi c ủa loài người với di chỉ Thẩm Khuyên , Thẩ m Hai nổ i tiế ng. Trải qua hàng nghìn năm khai phá , với tinh thầ n lao đô ̣ng cầ n cù sáng ta ̣o , Lạng Sơn đã dần thay đổi và trở thành vị thế trọng yếu ở vùng biên cương phía Đông Bắ c Tổ quố c.
Các triều đại phong kiến Việt Nam luôn quan tâm đến vị trí "yế t hầ u " của Lạng Sơn trong việc bảo vệ giang sơn. Dưới triề u Lý (1010 - 1225) và triều Trần (1225 - 1400), Lạng Sơn được sử sách ghi nhận có vị trí đặc biệt quan trọng, ghi dấ u những chiế n công lớn trong cuô ̣c kháng chiế n chố ng quân Tố ng và 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ba lầ n đa ̣i thắ ng giă ̣c Nguyên - Mông. Trong kháng chiế n chố ng giă ̣c Minh dưới triề u Hâ ̣u Lê (thế kỷ XV), đô ̣i dân binh vùng Chi Lăng đã sát cánh cùng nghĩa quân Lam Sơn lâ ̣p chiế n công vang dô ̣i ta ̣i ải Chi Lăng vào ngày 10-10-1427. Chiế n thắ ng Chi Lăng maĩ ngân vang ca khúc khải hoàn về truyề n thố ng chố ng giă ̣c ngoa ̣i xâm của dân tô ̣c.
Truyề n thố ng đấ u tranh giữ nước của nh ân dân các dân tô ̣c La ̣ng Sơn đã đươ ̣c phát huy cao đô ̣ kể từ khi Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam ra đời (năm 1930) và giương cao ngo ̣n cờ lañ h đa ̣o nhân dân thực hiê ̣n cuô ̣c đấ u tranh giải phóng dân tô ̣c theo con đường cách ma ̣ng vô sản. Khởi nghĩa Bắc Sơn 27/9/1940 với lớp lớp chiến công vang dội có ý nghĩa lịch sử đối với phong trào cách mạng nước ta và phong trào giải phóng của cả dân tộc Đông Dương trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, là tiếng súng báo hiệu thời kỳ đấu tranh mới của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời kỳ khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Cuộc khởi nghĩa đã có một quá trình chuẩn bị lâu dài đầy gian khổ, trải qua nhiều thử thách thăng trầm do đó tinh thần khởi nghĩa Bắc Sơn đã thúc đẩy phong trào cứu nước toàn quốc, tiến tới đỉnh cao là cách mạng tháng Tám thành công , nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Với ý chí , quyế t tâm "không chiụ mấ t nước , không chiụ làm nô lệ", Đảng bô ̣, quân và dân các dân tô ̣c La ̣ng Sơn đã anh dũng đứng lên tiế n hành cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược.
Bằ ng những chiế n công hiể n hách gắ n liề n với tên đấ t , tên làng như : Ba Sơn , Chi Lăng , Đèo Khách, Bó Củng, Lũng Vài, Lũng Phầy, Bản Nằm,. quân và dân La ̣ng Sơn đã phối hơ ̣p nhip̣ nhàng với các lực lươ ̣ng , biế n Đường số 4 anh hùng thành "con đường chế t" đố i với quân thù , làm nên chiến thắng biên giới (năm 1950), giải phóng Lạng Sơn, góp phần đánh bại hoàn toàn quân viễn chinh Pháp tạ i cứ điể m Điê ̣n Biên Phủ. Trong cuô ̣c kháng chiế n chố ng Mỹ cứu nước , Lạng Sơn đã trở thành "cảng nổ i", tiế p nhâ ̣n vâ ̣t tư , hàng hoá của các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của n hân dân Viê ̣t Nam, góp phần cùng cả nước giải phóng miền Nam, thố ng nhấ t đấ t nước. Lạng Sơn là quê hương của nhiều dân tộc ít người vùng núi Đông Bắc Việt Nam với đặc trưng văn hoá riêng thể hiện qua các lễ hội, làng nghề, các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, tôn giáo, các làn điệu dân ca, dân vũ, trò vui đặc sắc diễn ra trong các lễ hội, ngày vui như: hát then đàn tính; hát SLi, hát Cò Lẩu (dân tộc Nùng); hát Lượn, hát Quan Làng (dân tộc Tày); hát Xắng Cọ (dân tộc Sán Chỉ); múa sư tử, múa võ dân tộc, trò sĩ - nông - công - thương trong lễ hội Lồng Tồng, thi nấu món ăn dân tộc; nghề nhuộm chàm, thêu, dệt thổ cẩm.