Tổng quan nghiên cứu
Vườn Quốc gia Xuân Sơn được chính thức thành lập vào tháng 4 năm 2002 với tổng diện tích tự nhiên đạt trên 15.000 ha, giữ vị trí then chốt trong hệ thống các khu rừng đặc dụng bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam. Trước xu thế tăng trưởng của ngành du lịch toàn cầu và định hướng từ Tổ chức Du lịch Thế giới khi chọn năm 2002 là năm Du lịch sinh thái quốc tế, khu vực này ghi nhận lượng du khách tăng trưởng đều đặn qua từng năm. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn trong giai đoạn đầu chủ yếu mang tính tự phát, tiềm ẩn nguy cơ xung đột sâu sắc giữa khai thác kinh tế và bảo tồn hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển du lịch với yêu cầu bảo tồn các giá trị cảnh quan, hệ thực vật đặc hữu và bản sắc văn hóa của cộng đồng người Dao, người Mường bản địa. Mục tiêu cụ thể của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận về du lịch sinh thái, đánh giá toàn diện các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, phân tích hiện trạng hoạt động và lượng hóa các chỉ số sức chứa du lịch.
Phạm vi nghiên cứu không gian bao trùm toàn bộ diện tích Vườn Quốc gia Xuân Sơn cùng dải vùng đệm thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đồng thời đặt trong mối liên hệ không gian du lịch với vùng Trung du và Miền núi Bắc Bộ. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học chuẩn xác, giúp tối ưu hóa việc phân vùng chức năng, nâng cao hiệu quả bảo tồn cho 290 loài thực vật đặc hữu (chiếm 39,9% hệ thực vật) và tạo tiền đề phát triển kinh tế cộng đồng bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của lý thuyết phát triển du lịch bền vững và lý thuyết hệ thống lãnh thổ du lịch theo quan điểm địa lý học. Luận văn vận dụng định nghĩa chuẩn mực của Hector Ceballos-Lascurain (1987) và Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES), khẳng định du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm tại các khu tự nhiên còn tương đối hoang sơ, gắn liền với bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương.
Khung lý thuyết vận hành dựa trên 4 yêu cầu mang tính nguyên tắc: khai thác hệ sinh thái đặc thù, tích hợp giáo dục môi trường, quy hoạch lãnh thổ phù hợp sức chứa sinh thái và thúc đẩy mô hình du lịch sinh thái cộng đồng. Trong đó, mô hình đánh giá sức chứa du lịch của Cifuentes (1992) được áp dụng để xác lập ba cấp độ: sức chứa tự nhiên (PCC), sức chứa thực tế (RCC) sau khi loại trừ các biến số hạn chế môi trường - xã hội, và sức chứa cho phép (ECC) gắn liền với năng lực quản lý thực tế của ban quản lý vườn.
Phương pháp nghiên cứu
Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, nghiên cứu sử dụng phối hợp các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2011. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo quy hoạch lâm nghiệp của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, chuỗi số liệu khí hậu nhiều năm tại trạm quan trắc Minh Đài và các văn bản chỉ đạo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ.
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện trên cỡ mẫu 250 đối tượng khảo sát. Trong đó, mẫu du khách gồm 150 người được thu thập bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại các điểm dừng chân trọng điểm; mẫu người dân gồm 100 hộ gia đình bản địa tại xóm Dù, xóm Lạng và xóm Cỏi được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê toán học, ma trận đánh giá tiềm năng cảnh quan và kỹ thuật chồng lớp bản đồ không gian trên hệ thống thông tin địa lý (GIS). Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm tích hợp đồng bộ các yếu tố tự nhiên (địa chất, sinh thái, thủy văn) với các biến số kinh tế - xã hội, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc tính toán sức chứa và phân vùng chức năng khai thác du lịch.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu đã làm rõ nguồn tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên vượt trội của Vườn Quốc gia Xuân Sơn với sự kết hợp hiếm có giữa địa hình núi cao và hệ thống hang động karst độc đáo. Địa hình khu vực thuộc phần cuối của dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao trung bình từ 700 m đến 1.300 m, tạo thành quần thể tam giác cảnh quan núi cao gồm đỉnh núi Voi (1.387 m), núi Ten (1.244 m) và núi Cẩn (1.144 m) với chiều dài mỗi cạnh khoảng 4,5 km được bao phủ bởi rừng nguyên sinh. Hệ thống hang động karst phân bố dày đặc với hơn 30 hang động lớn nhỏ tại xóm Lấp và xóm Cỏi; tiêu biểu như hang Lạng có chiều dài trên 7.000 m, vòm trần cao từ 10 m đến 30 m và chiều rộng từ 10 m đến 15 m với suối ngầm chảy xuyên suốt.
Về tài nguyên sinh vật, nghiên cứu đã thống kê được 726 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 475 chi và 134 họ, phân bố trong 9 kiểu thảm thực vật với cấu trúc rừng 4 tầng tán liên tục. Thảm thực vật chiếm ưu thế gồm trảng cỏ và cây bụi rộng 4.927 ha (chiếm 30,7% diện tích), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đạt 1.733 ha (chiếm 11,5%) và rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp đạt 2.218 ha (chiếm 14,7%). Đa dạng sinh học được minh chứng qua sự hiện diện của 32 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới (như Chò chỉ, Nghiến, Kim giao, Lát hoa, Lan hài điệp), cùng 290 loài thực vật đặc hữu (chiếm 39,9% hệ thực vật). Đặc biệt, khu hệ thực vật sở hữu 300 loài cây dược liệu (chiếm 41,3% tổng số loài), 94 loài cây cảnh và 128 loài cây thực phẩm giá trị cao.
Điều kiện khí hậu sinh học tại Xuân Sơn có tính phân hóa rõ rệt với nền nhiệt trung bình năm từ 22°C đến 23°C (trung bình 22,5°C), lượng mưa trung bình năm 1.826 mm và độ ẩm không khí 86%. Thời gian thích nghi tối ưu cho hoạt động du lịch ngoài trời kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4 và từ tháng 10 đến tháng 12 hàng năm.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa trực quan qua bảng tổng hợp ma trận tài nguyên và sơ đồ chuỗi tuyến điểm du lịch sinh thái. Khi so sánh với các vườn quốc gia lân cận trong khu vực miền Bắc như Ba Vì hay Cúc Phương, Xuân Sơn sở hữu tỷ lệ che phủ rừng nguyên sinh trên đất đá vôi xương xẩu cao hơn khoảng 20% đến 25%, tạo nên tính hoang sơ đặc biệt hấp dẫn khách du lịch mạo hiểm và nghiên cứu khoa học. Độ dốc sườn núi trung bình trên 20 độ vừa là rào cản di chuyển nhưng đồng thời lại là tấm lá chắn tự nhiên giúp bảo tồn nguyên vẹn cấu trúc 4 tầng tán của các kiểu thảm thực vật nhiệt đới và á nhiệt đới.
Tuy nhiên, kết quả điều tra hiện trạng cho thấy hoạt động du lịch vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Mức độ đáp ứng về giáo dục môi trường của các tuyến du lịch hiện tại mới đạt dưới 30% so với yêu cầu chuẩn mực của du lịch sinh thái. Tỷ lệ tham gia trực tiếp của cộng đồng người Dao, Mường vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch mới dừng ở mức dưới 15% tổng số hộ dân, chủ yếu là các hoạt động tự phát, chưa hình thành cơ chế điều tiết chia sẻ lợi nhuận công bằng giữa ban quản lý và cư dân địa phương.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm chuyển hóa tiềm năng thành động lực phát triển bền vững, luận văn đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với lộ trình và chủ thể thực hiện cụ thể:
- Phân vùng quy hoạch không gian và quản lý sức chứa sinh thái: Thiết lập ranh giới nghiêm ngặt giữa vùng bảo tồn lõi và vùng khai thác du lịch sinh thái. Tiến hành áp dụng ngưỡng sức chứa tức thời tại các điểm nhạy cảm: khống chế sức chứa tối đa tại thác Kẹm không quá 60 khách/lượt và thác Bay không quá 50 khách/lượt. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường hoàn thành cắm mốc phân khu trong giai đoạn 2011 - 2013.
- Đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái đặc thù: Khai thác tuyến du lịch thám hiểm leo núi tam giác Voi - Ten - Cẩn kết hợp khám phá hang Lạng dài trên 7.000 m; phát triển tour chuyên đề nghiên cứu 300 loài cây thuốc và trải nghiệm văn hóa bản sắc xóm Cỏi, xóm Dù. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,2 ngày lên 2,5 ngày trong giai đoạn 2012 - 2015. Đơn vị thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ kết nối với các hiệp hội lữ hành.
- Xây dựng cơ chế đồng quản lý và hỗ trợ sinh kế cộng đồng: Thành lập Hợp tác xã Du lịch sinh thái cộng đồng bản địa, trích từ 15% đến 20% nguồn thu phí tham quan để tái đầu tư vào quỹ phát triển thôn bản và bảo tồn rừng. Đào tạo nghiệp vụ hướng dẫn viên và dịch vụ lưu trú homestay cho tối thiểu 40% hộ dân tại các xóm trung tâm. Cơ quan chỉ đạo: Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn và chính quyền xã Xuân Sơn thực hiện từ năm 2012 đến năm 2014.
- Đầu tư hạ tầng xanh và truyền thông giáo dục môi trường: Lắp đặt hệ thống 100% biển báo chỉ dẫn, pano diễn giải sinh thái song ngữ dọc theo các tuyến mòn tham quan; xây dựng Trung tâm diễn giải môi trường và nhà bảo tàng sinh thái mẫu vật phục vụ học tập, nghiên cứu. Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Sơn phối hợp các tổ chức bảo tồn triển khai trong giai đoạn 2013 - 2015.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý rừng đặc dụng: Lãnh đạo Vườn Quốc gia Xuân Sơn, Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phú Thọ sử dụng bộ công cụ tính toán sức chứa du lịch và phương án phân vùng sinh thái để hoàn thiện đề án quy hoạch phát triển rừng đặc dụng giai đoạn mới.
- Doanh nghiệp lữ hành và các nhà đầu tư du lịch: Các công ty kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, trekking, mạo hiểm áp dụng dữ liệu về 3 đỉnh núi cao, hệ thống hang động và danh mục điểm đến để thiết kế các tour du lịch xanh có trách nhiệm, hạn chế tối đa rủi ro mùa vụ.
- Giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên chuyên ngành: Các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực Địa lý học, Lâm nghiệp, Du lịch học, Sinh thái học và Môi trường sử dụng tài liệu như một công trình mẫu mực về phương pháp đánh giá tài nguyên lãnh thổ và phân tích cấu trúc 9 kiểu thảm thực vật.
- Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển cộng đồng: Các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ sinh kế nông thôn sử dụng mô hình chia sẻ lợi ích từ du lịch cộng đồng để áp dụng cho các vùng đệm vườn quốc gia tương tự tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Vườn Quốc gia Xuân Sơn sở hữu những giá trị tài nguyên sinh thái nào nổi bật nhất?
Khu vực này sở hữu 9 kiểu thảm thực vật với cấu trúc rừng 4 tầng tán nguyên sinh, 726 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 32 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam và thế giới cùng 290 loài đặc hữu (chiếm 39,9%). Ngoài ra, hệ thống hang động karst phong phú với hang Lạng dài trên 7.000 m và 300 loài cây dược liệu quý tạo nên tiềm năng du lịch sinh thái vượt bậc.
Sự khác biệt cốt lõi giữa du lịch sinh thái và du lịch tự nhiên truyền thống tại Xuân Sơn là gì?
Du lịch sinh thái tại Xuân Sơn không chỉ dừng lại ở việc ngắm cảnh tự nhiên thuần túy mà bắt buộc phải gắn liền với giáo dục diễn giải môi trường, tuân thủ nghiêm ngặt sức chứa sinh thái (như khống chế 50 - 60 khách tại các thác nước), đóng góp trực tiếp vào quỹ bảo tồn và nâng cao sinh kế cho cộng đồng người Dao, Mường bản địa.
Thời điểm nào trong năm thích hợp nhất để tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái tại Xuân Sơn?
Điều kiện khí hậu sinh học thuận lợi nhất diễn ra vào các tháng 2, 3, 4 (mùa xuân, thời tiết ấm áp) và các tháng 10, 11, 12 (mùa khô hanh, nhiệt độ trung bình khoảng 22,5°C). Du khách nên hạn chế tham gia các hoạt động mạo hiểm, lội suối vào tháng 8 và tháng 9 do đây là cao điểm mưa bão, lũ quét có thể gây nguy hiểm.
Phương pháp xác định sức chứa du lịch có vai trò gì trong quản lý điểm đến tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn?
Công thức tính toán sức chứa tự nhiên (PCC), thực tế (RCC) và cho phép (ECC) giúp ban quản lý định lượng chính xác số lượt khách tối đa tại từng điểm tham quan trong một ngày. Việc này ngăn chặn tình trạng quá tải hạ tầng, tránh xói mòn thổ nhưỡng, giảm thiểu tiếng ồn làm ảnh hưởng đến tập tính động vật và bảo vệ nguồn nước ngầm.
Cộng đồng dân cư bản địa người Dao và Mường đóng vai trò gì trong mô hình phát triển du lịch sinh thái?
Cộng đồng địa phương vừa là chủ thể lưu giữ các giá trị văn hóa phi vật thể, vừa là lực lượng cung cấp dịch vụ homestay, dẫn đường bản địa và ẩm thực đặc sản. Việc trích lại từ 15% đến 20% doanh thu phí tham quan cho cộng đồng giúp tạo sinh kế bền vững, giảm thiểu triệt để áp lực chặt phá rừng và săn bắt trái phép trong vùng lõi.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và phương pháp luận về phát triển du lịch sinh thái trên nền tảng địa lý học và phát triển bền vững tại vùng rừng đặc dụng.
- Đánh giá chi tiết tiềm năng tài nguyên tự nhiên với 726 loài thực vật, 32 loài Sách đỏ, hệ thống hang động karst dài trên 7.000 m cùng bản sắc văn hóa độc đáo của đồng bào Dao, Mường.
- Lượng hóa các chỉ số sức chứa du lịch và làm rõ những bất cập về quản lý môi trường, hạ tầng dịch vụ trong hiện trạng phát triển du lịch tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về phân vùng sức chứa, phát triển sản phẩm đặc thù, đồng quản lý cộng đồng và đầu tư hạ tầng xanh theo lộ trình giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020.
- Khuyến nghị các cơ quan quản lý và doanh nghiệp sớm chuyển giao, áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn nhằm hiện thực hóa mục tiêu biến Vườn Quốc gia Xuân Sơn thành điểm đến du lịch sinh thái kiểu mẫu của vùng Tây Bắc.