chương 1) Luật DL Việt Nam năm 2017 quy định: “Tài nguyên DL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành SPDL, khu DL, điểm DL, nhằm đáp ứng nhu cầu DL. Tài nguyên DL bao gồm tài nguyên DL tự nhiên và tài nguyên DL văn hóa”. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu tài nguyên DL là tổng thể những cảnh quan, yếu tố tự nhiên, giá trị văn hóa lịch sử, đời sống xã hội do con người tạo ra có sức hấp dẫn với du khách có thể khai thác và sử dụng để phục vụ PTDL. TNDL bao gồm các yếu tố tự nhiên, yếu tố kinh tế xã hội có sẵn trong tự nhiên hay do con người tạo ra, tạo nên những điểm đặc sắc cho mỗi quốc gia hay địa phương 14 đó.
Khi các yếu tố này được phát hiện, khai thác và sử dụng cho mục đích PTDL thì chúng sẽ trở thành tài nguyên DL. TNDL được chia thành TNDL tự nhiên gắn liền với yếu tố tự nhiên và TNDL nhân văn gắn liền với yếu tố đời sống con người.TNDL gồm TNDL đang khai thác và chưa khai thác. Cũng như các dạng tài nguyên khác, tài nguyên DL là một phạm trù lịch sử và có xu hướng ngày càng tăng lên. Sự tăng lên của các TNDL phụ thuộc vào yêu cầu PTDL, nhu cầu của khách DL, trình độ phát triển khoa học, công nghệ tạo ra phương tiện khai thác các tài nguyên đó, khả năng nghiên cứu phát hiện đánh giá tiềm năng còn tiềm ẩn của tài nguyên.
Như vậy, tài nguyên DL được xem như tiền đề để PTDL, là yếu tố cơ bản để tạo nên các SPDL. TNDL càng phong phú, đặc sắc và có mức độ tập trung cao thì càng hấp dẫn du khách và hiệu quả kinh doanh DL cao. Đánh giá tài nguyên du lịch Đánh giá tài nguyên DL là quá trình đánh giá giá trị của tài nguyên có thể khai thác sử dụng phục vụ cho sự PTDL. TNDL vốn rất phong phú đa dạng, nhưng thường chia làm hai loại tài nguyên DL tự nhiên và tài nguyên DL nhân văn.
Vì vậy, đánh giá TNDL cũng chính là đánh giá tổng thể: Tài nguyên DL tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác và tài nguyên DL nhân văn bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích DL. Du lịch Với đời sống xã hội ngày càng nâng cao thì DL trở thành nhu cầu không thể thiếu. Vì thế thuật ngữ “DL” cũng trở nên rất thông dụng. Nó bắt nguồn từ tiếng Pháp “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi.
DL gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi phục, nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động của con người. DL có liên quan mật thiết đến sự chuyển chỗ, đến một nơi mới khác nơi mình sinh sống với nhiều hoạt động khác nhau. Khái niệm “DL là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ 15 ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hoá” được I. Pirôgionic đưa ra năm 1985 đã được nhiều chuyên gia, nhiều tổ chức đồng tình.
Khái niệm này gồm hai nội dung: một mặt là sự vui chơi nghỉ ngơi, nâng cao nhận thức; mặt khác là mang lại lợi ích kinh tế thông qua việc tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá. Theo Tổ chức DL Thế Giới IUOTO (International Union Of Travel Organization) định nghĩa: “DL là tổng hợp các hiện tượng, mối quan hệ và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc lưu hành và lưu trú của các tập thể, cá nhân ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ở ngoài nước họ với mục đích hòa bình, nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Theo Luật DL Việt Nam năm 2017: “DL là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên DL hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” 1. Loại hình du lịch Theo Tổ chức DL Thế Giới IUOTO (International Union Of Travel Organization) LHDL được định nghĩa là các phương thức DL, cách khai thác thị hiếu, sở thích và nhu cầu của khách hàng để đáp ứng tốt nhất mong muốn của họ. Với nhu cầu cao của du khách hiện nay, DL ngày càng trở nên phong phú, đa dạng với nhiều loại hình mới mẻ, hấp dẫn.
LHDL thường được xác định dựa trên cơ sở TNDL có khả năng khai thác, các điều kiện PTDL và nhu cầu của thị trường. Mục đích của việc xác định các LHDL nhằm vào việc xây dựng chiến lược PTDL của quốc gia, của địa phương và định hướng chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp DL. Vì mỗi LHDL sẽ có các yêu cầu riêng về cách thức tổ chức, đội ngũ hướng dẫn viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị. Trong hình thành các LHDL, nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn là cơ sở quyết định các LHDL.
Các LHDL được phân thành: DL tham quan; DL văn hóa, DL thể thao, DL sinh thái, DL nghỉ dưỡng – chữa bệnh; DL ẩm thực, DL dịch vụ hội nghị, hội thảo; DL vui chơi giải trí, DL biển- đảo… 16 1. Điểm du lịch Theo Luật DL Việt Nam năm 2017: “Điểm DL là nơi có tài nguyên DL được đầu tư, khai thác phục vụ khách DL”. Điểm DL (Tourist destination hay Tourist attraction) là nơi có tài nguyên DL hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu của khách DL, có kết cấu hạ tầng, dịch vụ cần thiết bảo đảm phục vụ khách DL. Điểm DL thuộc phân cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị phân vùng DL, có quy mô nhỏ, có không gian riêng biệt.
Tùy vào sự đa dạng tài nguyên của một vùng, địa phương, khu vực, quốc gia sẽ có đa dạng các điểm DL hấp dẫn khách DL. Các điểm DL được nối với nhau bằng tuyến DL. Tuyến du lịch Theo Luật DL Việt Nam ban hành năm 2005 định nghĩa: “Tuyến DL là lộ trình liên kết các khu DL, điểm DL, cơ sở cung cấp dịch vụ DL, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không”. Để trở thành Tuyến DL cần có đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, phải nối các khu DL, điểm DL trong phạm vi địa phương; hoặc phạm vi quốc gia phải nối các khu DL, điểm DL, trong đó có khu DL, điểm DL quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế.
Thứ hai, phải có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách DL dọc theo tuyến. Phát triển du lịch bền vững Phát triển bền vững là một trong những mục tiêu hàng đầu cho phát triển của Việt Nam. Ở nước ta, khái niệm phát triển bền vững mới được tiếp cận từ những năm 1980, được khẳng định trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nước giai đoạn 1991- 2000, bằng Chỉ thị 36 CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về công tác tăng cường bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước và chủ trương của Đảng qua các kỳ đại hội lần thứ X, XI, XII. Việc xác định nguyên tắc phát triển bền vững và DL bền vững là cơ sở quan trọng cho những bước tiếp theo của ngành DL.
“PTDL bền vững là sự PTDL đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động DL, không 17 làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về DL trong tương lai” trích theo Luật DL Việt Nam năm 2017.[8] PTDL bền vững là vấn đề cần thiết và tất yếu trong quá trình PTDL hiện nay. PTDLBV là bên cạnh hoạt động khai thác các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách DL còn phải quản lý, bảo vệ, tôn tạo các tài nguyên đó, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động DL trong tương lai. Vai trò của tài nguyên đối với PTDL Vai trò của tài nguyên đối với các hoạt động DL được thể hiện qua các mặt: - Tài nguyên DL là yếu tố cơ bản để hình thành các SPDL SPDL được tạo nên bởi nhiều yếu tố, song trước hết phải kể đến TNDL. Để đáp ứng nhu cẩu đòi hỏi của khách DL, các SPDL không thể đơn điệu nghèo nàn, kém hấp dẫn, mà cần phải phong phú, đa dạng, đặc sắc và mới mẻ.
Chính sự phong phú và đa dạng của TNDL đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của SPDL. TNDL càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của SPDL và độ hấp dẫn khách DL càng tăng. Có thể nói chất lượng của TNDL sẽ là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng SPDL và hiệu quả của hoạt động DL. - Tài nguyên DL là cơ sở quan trọng để phát triển các LHDL Trong quá trình PTDL, để không ngừng đáp ứng các yêu cầu và thỏa mãn các mục đích của khách DL, các LHDL mới cũng không ngừng xuất hiện và phát triển.
Các LHDL ra đời đều phải dựa trên cơ sở của TNDL. Và chính sự xuất hiện của các LHDL đã làm cho nhiều yếu tố của ĐKTN và xã hội trở thành tài nguyên DL. Không có những hang động ngầm bí ẩn, những đỉnh núi cao hiểm trở, những cánh rừng nguyên sinh âm u, hoang vắng thì không thể xuất hiện LHDL thám hiểm. Không có những bãi san hô và thế giới sinh vật thủy sinh muôn màu muôn vẻ ngập chìm dưới làn nước trong xanh thì không thể có LHDL ngầm dưới biển.
- Tài nguyên DL là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ DL Trong phạm vi một lãnh thổ cụ thể, mọi hoạt động DL đều phản ánh một tổ chức không gian DL nhất định. Hệ thống lãnh thổ DL thể hiện mối quan hệ về mặt không 18 gian của các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau cấu tạo nên nó.