Chương 1: - Chương 2: - Chương 3: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1. Quan điểm về du lịch sinh thái 1. Du lịch bền vững Theo quan điểm của Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Thế giới ( IUCN ) thì “phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn, đan xen nhau”. Có quan điểm cho rằng du lịch bền vững là hoạt động khai thác môi trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới đưa ra tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Luật Du lịch, du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai 1. Du lịch sinh thái 1.
Khái niệm về du lịch sinh thái: Hiện nay có rất nhiều quan điểm về khái niệm du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái có thể được hiểu dưới những tên gọi khác nhau như: - Du lịch thiên nhiên - Du lịch dựa vào tự nhiên - Du lịch môi trường - Du lịch xanh - Du lịch có trách nhiệm Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Hector Ceballos- Lascurain đưa ra năm 1987: Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá. Định nghĩa của Nêpan : Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào. Định nghĩa của Ôxtrâylia: Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lý bền vững về mặt sinh thái.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương Buckley đã tổng quát : Chỉ có du lịch dựa vào tư nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái. Khái niệm về du lịch sinh thái đã có những thay đổi trong cách nhìn nhận, từ việc đơn thuần coi hoạt động DLST là loại hình du lịch ít tác động tới môi trương sang cách nhìn nhận DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Hội thảo quốc gia về “ Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Vịêt Nam ” từ ngày 7-9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa lần đầu tiên về DLST ở Việt Nam “ Du lịch sinh thái là lọai hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Theo định nghĩa này, vai trò của cộng đồng địa phương trong hoạt động sinh thái đã được khẳng định.
Theo Luật Du lịch, du lịch sinh thái là " hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững". Mặc dù khái niệm về DLST còn có những điểm chưa thống nhất và sẽ còn được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của nhận thức, song những đặc điểm cơ bản nhất của định nghĩa về DLST cũng đã được Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO) tóm tắt lại như sau [19]: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hoá truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó. - DLST phải bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường - Thông thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp có quy mô nhỏ tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách. Các công ty lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức, điều hành và/hoặc quảng cáo các tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế.
- DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên và văn hoá-xã hội. - DLST có sự hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách : Tạo ra những lợi ích về kinh tế cho địa phương, các tổ chức và chủ thể quản lý với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó. Tạo ra các cơ hội về việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương. Tăng cường nhận thức của cả du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá.
Đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái : DLST là một loại hình du lịch, vì vậy DLST cũng bao gồm các đặc trưng của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm : - Tính đa ngành : Đối tượng được khai thác để phục vụ lọai hình du lịch sinh thái như sự hấp dẫn của cảnh quan, các giá trị văn hóa lịch sử. Sản phẩm du lịch là tổng hợp của nhiều sản phẩm các nganh kinh tế khác. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tính đa thành phần : Các đối tượng tham gia vào họat động du lịch nói chung rất đa dạng. Khách du lịch, các nhà cung ứng du lịch, cộng đồng địa phương -Tính đa mục tiêu : Hoạt động du lịch nói chung mang lại nhiều lợi ích đa dạng như đáp ứng nhu cầu tham quan của khách, mang lại lợi ích về bảo tồn cảnh quan, nâng cao mức sống cho cộng đồng dân cư địa phương.
- Tính liên vùng : Hoạt động du lịch không đơn thuần diễn ra ở một địa phương, một quốc gia mà thường liên kết các điểm du lịch, các tuyến du lịch liêng vùng, liên quốc gia. - Tính mùa vụ : Tuỳ vào loại hình du lịch mà hoạt động du lịch sẽ có tính mùa vụ rõ ràng hoặc không rõ ràng. Tính mùa vụ trong du lịch thể hiện ở việc thời gian tập trong hoạt động du lịch với cường độ cao trong năm. - Tính chi phí : Biểu hiện ở chỗ mục đích chuyến đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không nhằm mục đích kiếm tiền.
- Tính xã hội hoá : Mọi thành phần trong xã hội có thể gián tiếp hoặc trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch. - Tính giáo dục cao về môi trường : DLST hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn có giá trị cao về đa dạng sinh học và nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động DLST luôn lồng ghép nội dung giáo dục về môi trường, bảo vệ môi trường cho du khách và được coi là cầu nối nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường. -Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Từ vịêc giáo dục du khách về nội dung bảo vệ môi trường, hoạt động DLST sẽ dần dần giúp du khách hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương : các khái niệm về du lịch sinh thái hầu hết đều nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương. Cộng đồng địa phương là chủ nhân các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho du lịch. Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST sẽ có tác dụng trong việc giáo dục du khách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời nâng cao nhận thức và thu nhâp cho cộng đồng. Cochrane đã tổng kết các nguyên tắc của du lịch sinh thái [26]: * Sử dụng thận trọng các nguồn tài nguyên môi trường, khuyến khích hoạt động bảo tồn và giảm thiểu các nguồn tiêu dùng gây rác rưởi * Phát triển ở mức độ hợp lý và lồng ghép với các ngành kinh tế khác hoặc với các chiến lược sử dụng lãnh thổ.
* Tạo nên những lợi ích kinh tế lâu dài cho cộng đồng địa phương, những người có quyền được làm chủ trong hoạch định phát triển. *Các hoạt động xúc tiến thị trường cần chú trọng tới vấn đề môi trường, hạn chế tác động của du lịch đến các giá trị văn hóa truyền thống và sự phát triển xã hội địa phương. *Có khả năng hấp dẫn số lượng du khách ngày càng tăng và thường xuyên đáp ứng cho du khách những trải nghiệm du lịch lý thú. * Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao.