CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở pháp lý - Luật Du lịch 2017 có quy định về tài nguyên du lịch, phát triển sản phẩm du lịch và hoạt động du lịch; quyền, nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến du lịch; quản lý nhà nước về du lịch. - Theo quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 18/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch phát triển văn hóa, gia đình, thể dục thể thao và du lịch vùng Đông Nam Bộ đến 2020, tầm nhìn 2030 thì di tích Căn cứ Quân ủy Bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam Việt Nam là điểm duy nhất của tỉnh được quy hoạch vào điểm du lịch quốc gia. - Quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 29-12-2011 về phê duyệt “chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. - Chỉ thị số 14/CT- TTg ngày 02 tháng 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch, tập trung khắc phục yếu kém, thúc đẩy phát triển du lịch… - Chỉ thị số 18/CT- TTg ngày 04 tháng 9 năm của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý môi trường du lịch, bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch.2 Khái niệm Du lịch sinh thái Từ những năm 1987, khái niệm DLST (Du lịch sinh thái) đã ra đời, du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được khám phá" [2].
4 Theo Wood năm 1991 thì DLST là: "Du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương" [2]. Theo định nghĩa của Nêpan: " Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào nó" [2]. Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: "Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường mới được xem là Du lịch sinh thái" [2].
Định nghĩa của Việt Nam về Du lịch sinh thái: "Du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương" [2].3 Nguyên tắc cơ bản phát triển du lịch sinh thái Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái là [2]: - Các hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác. Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hoá bản địa. Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hoá du lịch.
5 - Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái. Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động du lịch sinh thái tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên. Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề đó bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là ưu tiên hàng đầu thì ngược lại. Du lịch sinh thái coi đây là 1 nguyên tắc cơ bản, cần tuân thủ vì: + Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của du lịch sinh thái.
+ Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình, sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch sinh thái. - Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng. Đây được xem là 1 trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động du lịch sinh thái, bởi các giá trị văn hoá bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể. Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó.
Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái. Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái. - Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái. Nếu như các loại du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động đều thuộc về các Công ty du lịch thì ngược lại du lịch sinh thái sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương.
6 Ngoài ra, du lịch sinh thái luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, chỗ ở, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khác…thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương.4 Những yêu cầu cơ bản đối với DLST Theo Drumm (2002), những yếu tố dưới đây có vai trò quyết định đối với việc tổ chức thành công hoạt động DLST [3]: - Ít gây ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia. - Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách DLST, các nhà điều hành tour và các cơ quan, tổ chức phi chính phủ. - Tôn trọng văn hóa truyền thống địa phương. - Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phương và các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành tour tư nhân.
- Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của VQG (Vườn quốc gia) và tăng cường thu nhập của người dân địa phương nhằm giảm sức ép lên tài nguyên VQG. - Giáo dục những người tham gia về vai trò củra họ trong công tác bảo tàng. - VQG cũng như các di tích lịch sử đều được bảo tồn và phát triển bền vững. Cũng theo Lê Huy Bá (2009) để phát triển DLST có những yêu cầu cơ bản sau [4]: – Phát triển DLST cần có sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao.
– Du lịch sinh thái đòi hỏi người hướng dẫn viên phải am hiểu các đặc điểm sinh thái tự 7 nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương tại điểm đến. Các nhà điều hành du lịch phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý của những điểm đến DLST và cộng đồng địa phương. – Du lịch sinh thái phải thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch. – Du lịch sinh thái phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về sức chứa (dưới góc độ sức chứa vật lý, tâm lý, xã hội, quản lý).5 Bảo tồn di tích lịch sử Theo Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam, thắng cảnh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các di tích lịch sử là tài sản vô giá trong kho tàng di sản lâu đời của dân tộc Việt Nam là để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử trong việc giáo dục truyền thống dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam. Góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ và văn hoá của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa, làm giàu đẹp kho tàng di sản văn hoá dân tộc và góp phần làm phong phú văn hoá thế giới [5].2 Hiện trạng du lịch sinh thái gắn liền với di tích 1.1 Hiện trạng DLST gắn liền với di tích trên Thế Giới Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới xem du lịch là một ngành công nghiệp không khói. Du lịch không chỉ là một ngành kinh tế mà còn mang nhiều yếu tố về xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng ngân sách địa phương.và truyền bá giá trị văn hóa của bản sứ hay cả dân tôc. Hiện nay trên Thế Giới các di tích lịch sử đều được mở rộng và kết hợp với loại hình du lịch.
Khách du lịch cũng ý thức được việc phải gìn giữ và bảo tồn tài nguyên trong khu di tích, một phần do ý thức tự giác người dân cao; một phần nhờ có hệ thống quản lý của nhà nước chặt chẽ, hợp lý. Nhưng các khu di tích lịch sử 8 gấn liền với khu du lịch sinh thái thì vẫn còn hạn chế, hầu hết là du lịch sinh thái gắn liền với VQG, khu BTTN và di sản văn hóa. + Thành phố cổ Avdat, trên sa mạc Negev, Israel: Di sản Thế giới được UNESCO công nhận là Avdat là một trong những địa điểm quan trọng nhất của thời kỳ Nabataean, Roman và Byzantine ở Negev. Nó được định cư lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, khi các bộ tộc người Nabataean du mục bắt đầu định cư và tiếp nhận các tuyến buôn bán gia vị qua khu vực.