Mở đầu bao gồm tính cấp thiết, mục đích và phương pháp nghiên cứu, sẽ gồm có 3 phần: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về du lịch và du lịch làng quê Chƣơng 2: Tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp phát triển du lịch làng quê vùng đồng bằng sông Hồng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH LÀNG QUÊ 1. Du lịch và du lịch làng quê 1. Khái niệm về du lịch và du lịch làng quê 1. Du lịch Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người.
Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu tất yếu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá- xã hội của người dân các nước trên thế giới.Xét dưới góc độ kinh tế, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia. Thậm chí ở một số quốc gia, du lịch được coi là ngành kinh tế giữ vị trí hàng đầu trong việc thu hút ngoại tệ, tạo việc làm và là động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà cảở những nước đang phát triển. Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm về “du lịch” cũng có sự chưa thống nhất, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mà có những cách hiểu khác nhau về du lịch.
Khái niệm ngắn gọn nhất về du lịch được hai tác giả Ausher và Nguyễn Khắc Viện nêu ra, theo đó “du lịch là nghệ thuật đi chơi của cá nhân”(Ausher), hoặc “du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người” (Nguyễn Khắc Viện). Trong Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội (1995) “du lịch là đi chơi cho biết xứ người”. Theo nhà khoa học Guer Freuler (Đức) “du lịch là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự đổi thay của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển những tình cảm đối với vẻ đẹp của tự nhiên” Hai học giả Thuỵ Sỹ là Hunziker và Kraff coi “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi cư trú và nơi làm việc thường xuyên của họ”. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dưới con mắt của các nhà kinh tế học, du lịch không chỉđơn thuần là một hiện tượng xã hội mà nó liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế.
Nhà kinh tế học Kalfiotis cho rằng “du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi ởđến một nơi khác nhằm thoả mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức và do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”. Để cụ thể khía cạnh kinh tế của hoạt động du lịch, nhà kinh tế học Picara Edmod đã định nghĩa “du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai đến với một túii tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp (trước hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí”. Trong giáo trình Thống kê du lịch, tác giả Nguyễn Cao Thường và Tụ Đăng Hải cho rằng “du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi hoặc cũng kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”. Năm 1963, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma (Ý), các nhà khoa học tham gia đã thống nhất đưa ra một định nghĩa có tính quốc tế về du lịch và về sau được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) chính thức thông qua là “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thểở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Nơi họđến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Đến năm 1991, tại Hội thảo quốc tế về lữ hành và thống kê du lịch, WTO đã đưa ra thêm một định nghĩa về du lịch, theo đó “du lịch được hiểu là hoạt động của con người đi tới một điểm ở bên ngoài môi trường sống thường xuyên của mình trong một thời gian nhất định và chuyến đi đó của họ không nhằm mục đích kiếm tiền tại nơi họ đến tham quan”. Theo quan điểm của học giả biên soạn Bách khoa toàn thư Việt nam thì khái niệm du lịch được hiểu theo hai nghĩa riêng biệt: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghĩa thứ nhất “du lịch được coi là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.” Nghĩa thứ hai “du lịch được coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cụ thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ”. Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Cho đến nay có không ít người trong đó có cả những cán bộ nhân viên hiện đang công tác trong ngành du lịch, coi du lịch đơn giản là một ngành kinh tế và mục tiêu quan trọng hàng đầu của du lịch là phải đem lại hiệu quả kinh tế cao và như vậy đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh du lịch.
Người ta đã quên rằng “du lịch là một hiện tượng xã hội sâu sắc, nó góp phần nâng cao dân trí và phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết.” do vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển. Luật Du lịch được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006 đã xác định du lịch là “các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Khái niệm này cùng với định nghĩa nêu trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam có thể được coi là hai định nghĩa chính thức của Việt Nam về hoạt động du lịch. Du lịch nông thôn Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt.
Nói một cách khác, phát triển du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các giá trị tài 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguyên du lịch. Dựa vào việc khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ở các vùng địa lý đặc thù khác nhau, du lịch có thể là du lịch biển (chủ yếu dựa vào tài nguyên biển như các bãi biển, các hệ sinh thái biển, v.), du lịch núi (chủ yếu dựa vào tài nguyên núi nhưđịa hình, khí hậu, các hệ sinh thái núi điển hình, v.); dựa vào việc khai thác các giá trị tài nguyên du lịch ở các lãnh thổ có hình thái tổ chức xã hội khác nhau, du lịch có thể là du lịch thành phố/đô thị (với nhiều loại hình du lịch đặc trưng như du lịch MICE, du lịch mua sắm, v.), du lịch nông thôn (với nhiều loại hình du lịch đặc trưng như du lịch làng nghề, du lịch nông trang, du lịch ở tại nhà dân , v. ); dựa vào việc khai thác các giá trị tài nguyên để phục vụ cho các mục đích du lịch khác nhau, du lịch lúc này có thể là du lịch nghỉ dưỡng (có thể ở vùng biển, vùng núi, vùng nông thôn, v.), du lịch thăm quan, du lịch lễ hội, v. Như vậy có thể thấy du lịch nông thôn là hoạt động du lịch được tổ chức phát triển ở địa bàn nông thôn trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn) nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách.
Du lịch nông thôn đã được phát triển ở nhiều nước trên thế giới và có những cách thức, hình thức tổ chức khác nhau. Ở một số nước, chính phủ hoặc tổ chức nghề nghiệp (hợp tác xã) là chủ đầu tư chủ yếu, trong khi có nước chủ đầu tư chủ yếu lại là các doanh nghiệp tư nhân. Ở Indonesia, du lịch nông thôn phát triển chủ yếu ở các khu vực đồn điền thuộc Sumatra và Java, khách du lịch ở khách sạn quanh đó và chỉ đến thăm quan các trang trại để quan sát, tìm hiểu các hoạt động hoặc tham gia các hoạt động sản xuất như trồng lúa, cạo mủ cao su. Ở Nhật Bản, Australia du lịch nông thôn phát triển phổ biến nhất là ở các trang trại, nơi du khách có thể thăm quan cuộc sống, hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân và có thể tạn hưởng các dịch vụ lưu trú và ăn uống.
Ở Hàn Quốc, du lịch trang trại thường do nhóm cộng đồng gồm một số gia đình liên kết với nhau tổ chức và điều hành; khách du lịch có thểở ngay tại những gia đình này và tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Ở Malaysia, chính phủ cung cấp phần lớn tài chính cho hơn 30 trung tâm du lịch nông thôn, các trung tâm này 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được lập ra phục vụ hoạt động giáo dục và giải trí. Pháp là một ví dụ điển hình phát triển du lịch nông thôn ở châu Âu, theo đó cắm trại và nhà lưu động làm chỗ nghỉ là cách thức phổ biến nhất ở nông thôn. Nhiều trại và nhà lưu động dựng ngay trên các trang trại, nhiều nông dân còn dựng sẵn các khu cắm trại trên trang trại của mình.