chương I của Luật Du lịch (2005): “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”. Các tuyến du lịch được xem là những sản phẩm du lịch đặc biệt, việc xác định các tuyến du lịch phải dựa vào một số tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo được tính 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hấp dẫn cao của sản phẩm du lịch đặc biệt này. Để xác định các tuyến du lịch cần căn cứ vào một số tiêu chí chính sau đây: Định hướng tổ chức không gian du lịch chính của toàn lãnh thổ; Tài nguyên du lịch và sự hấp dẫn của các cảnh quan trên toàn tuyến và ở các điểm dừng tham quan du lịch; Các khu, điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí với khả năng thu hút khách; Các điều kiện về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông và các cửa khẩu quốc tế, về cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch; Sự phân bố và xu hướng của các luồng khách du lịch; Sự trong sạch của môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội; Các điều kiện về an ninh, trật tự an toàn xã hội. Nhu cầu giao lưu và hội nhập khu vực và quốc tế.
Mặt khác, việc lập tuyến tham quan du lịch phải dựa vào nguồn tài nguyên du lịch có thể khai thác, dựa vào nhu cầu của khách du lịch và khả năng cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch tại các điểm đến. Để lập tuyến tham quan, thông thường cần có những chuyên gia về những nội dung liên quan tới các đối tượng tham quan trên tuyến tham quan dự định lập, trong đó có cả hướng dẫn viên du lịch. Quá trình lập tuyến tham quan du lịch cần được bắt đầu bằng việc tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu liên quan tới các điểm du lịch, các đối tượng có thể lựa chọn cho tham quan cùng với các tài liệu về lịch sử, địa lý, văn hoá, kinh tế – xã hội của địa phương có điểm du lịch, có đối tượng tham quan. Chính từ nguồn tư liệu này, các chuyên gia và hướng dẫn viên được cung cấp một cách cơ bản ban đầu những hiểu biết phục vụ cho việc lập tuyến tham quan và cho việc hướng dẫn khách sau này.
Loại hình du lịch 1. Du lịch biển đảo Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3.260 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, với hàng ngàn đảo ven bờ với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng hàng loạt bãi tắm đẹp. Những bãi biển như Cát Bà, Lăng Cô, Non Nước, Cam Ranh, Mũi Né, Vũng Tàu… không thua kém hoặc có thể nói vượt trội về độ hấp dẫn so với những tuyến điểm biển nổi tiếng thế giới như Pattaya, Phuket, Ko-Samui (Thái Lan), hay Bali (Indonesia), Penang, Langkawi (Malaysia). Không chỉ có biển, Việt Nam còn sở hữu nhiều vịnh đẹp thuộc đẳng cấp quốc tế như Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, Vịnh Nha Trang - một trong những vịnh đẹp nhất thế giới.
Ngoài những hòn đảo đã quá quen thuộc như Phú Quốc, Cát Bà, Côn Đảo, Tuần Châu… còn nhiều hòn đảo hoang sơ như Quan Lạn, Cù Lao Chàm, Cù Lao Câu, Lý Sơn… có tiềm năng rất lớn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để phát triển du lịch. “Du lịch biển đảo là loại hình du lịch gắn liền với biển, thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động tắm biển, thể thao biển (bóng chuyền bãi biển, lướt ván, mô tô nước…). Loại hình này có tính mùa vụ rõ rệt nên thường được tổ chức vào mùa nóng với nhiệt độ nước biển và không khí trên 200C”. [Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý du lịch Việt Nam, 2013, tr.
Du lịch biển đảo là sự tổng hợp nhiều loại hình du lịch khác nhau như nghỉ dưỡng, thể thao, nghiên cứu khoa học… có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng khác nhau của du khách. Khí hậu nước ta có tính chất nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy, hoạt động du lịch biển đảo chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố khí hậu. Khí hậu xác định độ dài và chất lượng của mùa du lịch cũng như đóng vai trò chính trong quyết định lựa chọn điểm đến và chi tiêu của khách du lịch. Do tính chất bất thường của thời tiết nên hoạt động du lịch biển diễn ra không thường xuyên, liên tục.
Bên cạnh đó, các điểm du lịch biển đảo là đối tượng dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Chính những tác động xấu của biến đổi khí hậu gây nên những thay đổi về môi trường, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch biển đảo như: Thay đổi nguồn nước, suy giảm đa dạng sinh học, mất thẩm mỹ cảnh quan, xói mòn ven biển, thiên tai… Đối với người dân vùng ven biển, phát triển du lịch biển đảo đã mang lại cơ hội xóa đói giảm nghèo, cải thiện đáng kể đời sống của họ. Bộ mặt của nhiều địa phương cũng đã được tân trang với việc xây dựng cơ sở lưu trú mới cũng như nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch như vùng biển Mũi Né (Bình Thuận), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn (Quảng Ngãi)… 1. Du lịch sinh thái Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.
Theo quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành năm 2007, thì Du lịch Sinh thái được hiểu “Là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo các nhà chuyên môn, du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào các giá trị thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững. Ở một khía cạnh khác, có thể hiểu du lịch sinh thái là loại hình du lịch mà lợi ích của nó gắn chặt với trách nhiệm bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương. Địa điểm tổ chức loại hình du lịch sinh thái thường là những khu vực có hệ sinh thái còn tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa đang được bảo tồn gần như nguyên vẹn như các vườn quốc gia, các khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển, các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng văn hóa… Loại hình này hiện đang thu hút sự chú ý của hầu hết các du khách yêu chuộng thiên nhiên và văn hóa trên toàn thế giới.
Du lịch cộng đồng Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch được sở hữu bằng quản lý cộng đồng, các hình thức này gồm: Du lịch sinh thái, Du lịch nông nghiệp, Du lịch nông thôn, Du lịch làng, Du lịch bản địa và Du lịch văn hóa…Dựa trên cách hiểu này thì Việt Nam - nơi có cộng đồng dân cư đa dạng về sắc tộc và có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là lợi thế rất lớn để phát triển loại hình du lịch độc đáo này. Thực tế, trong thời gian gần đây, du lịch cộng đồng bắt đầu phát triển khá mạnh ở Việt Nam. Trong đó, Sa Pa (Lào Cai) hay bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) được xem là những điển hình cho sự thành công của mô hình homestay (khách du lịch cư trú tại nhà của người dân địa phương) tại Việt Nam. Theo nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2009): "Du lịch sinh thái cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý.
Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương". Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thì du lịch sinh thái cộng đồng là "phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội. Du lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường của họ". Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đồng tổ chức, dựa vào thiên nhiên và văn hoá địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường.
Du lịch cộng đồng đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao chất lượng cuộc sống 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho cộng đồng. Với khách du lịch, du lịch cộng đồng tạo cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hoá, trải nghiệm cuộc sống hàng ngày của cộng đồng. Như vậy, du lịch cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và du lịch bền vững, nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi trường, du lịch và cộng đồng. Phát triển du lịch 1.
Khái niệm Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội đất nước, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Chính phủ xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe của nhân dân và khách du lịch quốc tế; góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Hiệu quả của ngành Du lịch thường được đánh giá qua các chỉ số chính như: tốc độ tăng trưởng khách, độ dài lưu trú bình quân của khách, chi tiêu bình quân của khách, đóng góp của du lịch vào cơ cấu GDP. Sự phát triển của du lịch phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương, sự phối kết hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức trong nước và quốc tế, sự năng động tích cực của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, sự đồng cảm và tham gia của cộng đồng dân cư, du khách và sự quan tâm khích lệ của các cơ quan thông tin truyền thông – một kênh quan trọng tuyên truyền, quảng bá hình ảnh du lịch đất nước.
Nguyên tắc phát triển du lịch 1.