Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch. Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích lịch sử và danh thắng ở Kiên Giang. Chương 3: Giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và danh thắng. Đóng góp của luận văn Luận văn trình bày tổng quan những vấn đề lý luận về phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa.
Đồng thời, phân tích thực trạng phát triển du lịch gắn với bảo 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của tỉnh Kiên Giang; khẳng định vai trò, tầm quan trọng của di tích lịch sử văn hóa trong đời sống và phát triển du lịch. Bên cạnh đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần triển du lịch gắn với bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa và danh thắng của Kiên Giang. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRONG DU LỊCH 1. Một số vấn đề lý luận về bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch 1.
Khái niệm di tích Di tích được hiểu là những dấu vết vật chất của quá khứ còn tồn tại đến nay. Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (2006) thì: Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử. Quan niệm về văn hóa Các chuyên gia nghiên cứu trong các lĩnh vực, cũng như các tổ chức đã đưa ra khoảng trên 200 khái niệm khác nhau về văn hóa; mỗi khái niệm thể hiện cách nhìn nhận và góc độ đánh giá khác nhau. Có thể khái quát một số khái niệm như sau: Edward Burnett Tylor (1832-1917) đưa ra khái niệm: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến trúc, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”.
Theo các tác giả của bộ Từ điển Triết học thì: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Văn hóa là một hiện tượng xã hội tiêu biểu cho trình độ mà xã hội đã đạt được: tiến bộ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và lao động, học vấn, giáo dục, khoa học, nghệ thuật và những tổ chức thích ứng với những cái đó”. Tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982), UNESCO đã đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”. Trong nước, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng có những nhìn nhận khác nhau về văn hóa: Theo Nguyễn Từ Chi thì văn hóa là “cái tự nhiên được biến đổi bởi con người” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là văn hóa”.TS Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [48, tr10]. Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [30]. Nhìn chung, các khái niệm trên đều có cùng đặc điểm: văn hóa là những gì do con người sáng tạo và thuộc về con người. Những gì không do con người làm nên không phải là văn hóa. Vì vậy, văn hóa là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên.
Quan niệm về di sản văn hóa Di sản được hiểu là những tài sản chúng ta kế thừa từ các thế hệ trước, bao gồm toàn bộ môi trường thiên nhiên và văn hóa: cảnh quan, các di tích lịch sử, tập tục truyền thống, tri thức và kinh nghiệm sống v. Chúng ta phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy, bởi đó là những tài sản quý báu, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển xã hội hiện tại và tương lai. Điều này được khẳng định trong Luật di sản văn hóa năm 2001(Được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước CHXHCN Việt Nam: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Theo quan niệm của UNESCO có 2 loại di sản văn hóa: Một là, những di sản văn hóa hữu thể (Tangible) như đình, đền, chùa, miếu, lăng, mộ.
nhà sàn… Hai là, những di sản văn hóa vô hình (Intangible) bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng rộng rãi… Những di sản văn hóa tạm gọi là vô hình này theo UNESCO bao gồm cả âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng, ngôn ngữ, huyền thoại, tư thế (thư thái), nghi thức, phong tục, tập quán, y dược cổ truyền, việc nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống. Cái hữu thể và cái vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người. Luật di sản văn hóa năm 2001 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2009) của nước CHXHCN Việt Nam, điều 4.2: - Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đống; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. - Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Vì thế, Luật di sản văn hóa năm 2001 đã định nghĩa: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa Hiện nay, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa được xác định là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội bởi chúng ta đã nhận thức được vai trò và giá trị vô cùng to lớn của nguồn tài nguyên này. Ngoài ra, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Trong những năm qua, với sự quan tâm, nổ lực của xã hội, nhiều di tích đã được xếp hạng và trùng tu, sửa chữa, đảm bảo sự tồn tại lâu dài, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhiều di tích tiêu biểu đã phát huy giá trị một cách tích cực, thu hút nhiều khách tham quan và mang lại nguồn thu lớn cho đất nước. Nhìn chung, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại không ít những di tích đang bị xuống cấp trầm trọng, nhiều di tích tu bổ chưa hoàn chỉnh, cũng như nhiều di tích tôn tạo chưa đạt yêu cầu về chuyên môn. Thực tế tồn tại những hạn chế này là do: - Tuy xã hội có quan tâm đến vấn đề bảo tồn di sản văn hóa nhưng nhận thức chưa được sâu sắc và toàn diện nên chưa được cụ thể hóa bằng các biện pháp, các kế hoạch và chương trình hành động cụ thể; dẫn đến sự lúng túng trong việc làm hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển kinh tế.
Có nơi còn thương mại hóa các di tích, xem mục tiêu phát triển kinh tế quan trọng hơn mục tiêu bảo vệ di tích. - Công tác bảo tồn di tích còn thiếu định hướng, chưa có biện pháp chế tài, chính sách khuyến khích kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân… chưa tập trung dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước cũng như biện pháp sử dụng có hiệu quả từ các nguồn đóng góp này. - Nhiều di tích được tu bổ, sửa chữa không theo quy hoạch nên thiếu sự đầu tư đồng bộ cho di tích; kiến trúc di tích không hài hòa với môi trường xung quanh. - Thiếu sự quan tâm, chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong việc khai thác và bảo tồn di tích.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thông tin về di tích còn hạn chế; công tác tuyên truyền, giáo dục đào tạo chưa được coi trọng.