Phần mở đầu, Phần kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về du lịch Festival và điều kiện phát triển du lịch Festival ở Huế Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế Chƣơng 3. Một số giải pháp phát triển du lịch Festival ở Huế 7.
Đóng góp mới của luận văn Luận văn này nhằm giúp các nhà tổ chức, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Festival Huế có cái nhìn tổng thể, khái quát hơn về thực trạng khai thác Festival Huế qua từng thời kì, đặc biệt tập trung khảo sát Festival Huế 2014. Qua đó, các nhà chức trách, các cơ quan hữu quan cùng khối doanh nghiệp đánh giá chính xác hơn về festival và có những giải pháp, cụm giải pháp tích cực, thiết thực hơn giúp Festival Huế phát triển đúng với tiềm năng vốn có của nó. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH FESTIVAL VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH FESTIVAL Ở HUẾ 1.
Tổng quan về du lịch Festival 1. Festival và du lịch Festival Festival Festival là một từ gốc tiếng Anh, có nghĩa là Lễ hội, Đại hội, Liên hoan, Yến tiệc. Theo từ điển bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, Festival dùng thay thế với Gala, chỉ một sự kiện văn hóa, thƣờng đƣợc tổ chức bởi cộng đồng địa phƣơng nhằm kỉ niệm hay tƣởng niệm những nét văn hóa độc đáo của cộng đồng và đặc trƣng của Lễ hội đó. Ngoài ra một số nguồn khác có khái niệm nhƣ: Festival: Thuộc ngày hội.
Ngày hội; đại hội liên hoan; hội diễn; Festival (danh từ): (ngày hoặc thời gian) lễ hội tôn giáo hoặc hội hè khác; ngày hội; đại hội liên hoan; Festival: ngày hội có tính chất quốc gia hay quốc tế, giới thiệu những thành tựu nghệ thuật âm nhạc, sân khấu, điện ảnh,. Đối với một số tôn giáo, Festival còn mang nghĩa nhƣ bữa tiệc (Feast) đƣợc cộng đồng địa phƣơng tổ chức nhằm vinh danh một hay các vị thần (God hay Gods). Festival và Lễ hội Lễ hội là hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm nhiều thành tố: nghi lễ, tín ngƣỡng, tôn giáo, trang trí, điêu khắc, ca hát, âm nhạc, múa, trò diễn sân khấu, trò chơi, thể thao, thi tài, trƣng bày hiện vật, thƣởng ngoạn phong cảnh…[30] Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa đƣợc tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con ngƣời với thần linh, phản ánh những ƣớc mơ chính đáng của con ngƣời đối với cuộc sống mà bản thân họ chƣa có khả năng thực hiện.
"Hội" là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo thống kê 2009, hiện cả nƣớc Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nƣớc ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%). Các địa phƣơng có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dƣơng và Phú Thọ. Theo giáo sƣ Trần Lâm Biền “Lễ không phải là cúng bái, cúng bái và tế chỉ là một phần của lễ mà thôi.
Hội là gì? Hội không phải là trò chơi. Hội trƣớc hết là sự tập hợp một cộng đồng ngƣời nhất định để thực hiện những điều về lễ. Cho nên lễ và hội là một cặp phạm trù tƣơng hỗ, không thể tách rời. Vì rằng, trong các trò chơi cũng chỉ là một phần của lễ hội.
Nhƣng khi nó vào trong không gian thiêng, thời gian thiêng thì tự nhiên nó mang ý nghĩa thiêng liêng.