Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch dựa vào cộng đồng. – Chương 2: Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Tràng An-Bái Đính. – Chương 3: Hiện trạng hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng tại Tràng An-Bái Đính. – Chương 4: Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch dựa vào cộng động tại Tràng An-Bái Đính.
-5- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 1.1 Tổng quan về công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.1 Khái quát các công trình nghiên cứu theo hƣớng du lịch dựa vào cộng đồng a. Trên thế giới Thuật ngữ “Du lịch cộng đồng” (Community-based tourism) bắt nguồn từ loại hình du lịch làng bản, xuất hiện vào những năm 1970, khi một số khách du lịch muốn tham quan các làng bản và tìm hiểu văn hóa kết hợp với khám phá tự nhiên [36]. Lúc bấy giờ các chuyến tham quan này diễn ra ở các vùng xa xôi, thiên nhiên còn hoang sơ.
Vì vậy, khách du lịch cần có sự giúp đỡ của người dân bản địa. Đây chính là tiền đề cho phát triển du lịch cộng đồng [25]. Khác với DLST, du lịch dựa vào cộng đồng (DLCĐ) không được nghiên cứu như một loại hình cụ thể mà kết hợp linh hoạt và đa dạng trong các hình thức du lịch khác, trong đó có DLST, du lịch mạo hiểm, du lịch văn hóa. Như tên gọi của nó, DLCĐ hướng đến vai trò của cộng đồng trong hoạt động du lịch mà hình thức cao nhất là quyền “điều hành” hoạt động du lịch của cộng đồng địa phương.
Vì vậy, DLCĐ mang ý nghĩa xã hội nhiều hơn. DLCĐ được coi là một biện pháp hữu hiệu nhằm “xóa đói giảm nghèo” đối với khu vực kém phát triển do nó hạn chế sự “thất thoát kinh tế” của du lịch ra khỏi địa phương, nâng câo thu nhập của cộng đồng từ du lịch thông qua nỗ lực của bản thân họ. Hiện nay, nhiều nước đã xây dựng thành công du lịch cộng đồng, điển hình là mô hình du lịch của Costa Rica, Rwanda, Namibia và một số nước khu vực Mỹ Latinh. Những người đóng góp cho sự phát triển của DLCĐ có thể kể đến như Murphy (1985), Drumm (1998), Timothy (2002).
Năm 2000, Tổ chức Ngân hàng thế giới (WB) đã tổ chức hội thảo “DLCĐ và phát triển”, tạo điều kiện liên kết giữa đại diện các ngân hàng và các tổ chức quản lý công tác DLCĐ. -6- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khu vực Đông Nam Á Ở các nước ASEAN, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi từ Hội thảo “Xây dựng khung cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng” được tổ chức tại Indonesia tháng 5 năm 1995. Sau đó, các quốc gia Đông Nam Á khác cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo trao đổi quan điểm, khái niệm, điều kiện, cách thức và kinh nghiệm xây dựng mô hình du lịch cộng đồng.
Ngày nay, du lịch dựa vào cộng đồng được các ban ngành, tổ chức của các nước quan tâm nên đã trở thành lĩnh vực mới trong ngành du lịch. Nhờ đó lý thuyết về DLCĐ dần dần được hình thành. Việt Nam Ở nước ta, vấn đề phát triển du lịch cộng đồng lần đầu tiên được đưa ra tại Hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ Việt Nam – 2003 được tổ chức tại Hà Nội. Tính đến nay, đã có khá nhiều công trình công bố về DLCĐ cả về lý thuyết và thực tiễn.
Đóng góp không nhỏ vào việc phát triển DLCĐ ở Việt Nam là nỗ lực của các tổ chức quốc tế, đáng kể là SNV (Tổ chức phát triển Hà Lan), UNDP, MCD (trung tâm bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng). Tháng 10/2007, với sự hợp tác giữa SNV, MCD, Khoa Du lịch Đại học Mở Hà Nội, công ty du lịch Footprints và công ty lữ hành Intrepid, dự thảo về “Mạng lưới du lịch cộng đồng của Việt Nam” (VN_CBTN) đã được thiết lập. Đây được coi là hình thức liên kết đầu tiên trên quy mô quốc gia về DLCĐ, tạo tiếng nói chung giữa các nhà điều hành tour, các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu và trung tâm giáo dục với cộng đồng địa phương, đồng thời kêu gọi sự giúp đỡ tài chính trong và ngoài nước trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo và bình đẳng xã hội. Là một quốc gia phong phú về số dân tộc với nhiều đặc sắc văn hóa, trong những năm trở lại đây, Việt Nam đang nhận thức ngày càng rõ hơn vai trò của cộng đồng địa phương (CĐĐP) đối với hoạt động bảo tồn.
Đặc biệt với những bài học kinh nghiệm tại một số VQG và khu bảo tồn, việc nâng cao ý thức cộng động và khuyến khích sự tham gia tích cực của cộng đồng vào du lịch là hết sức quan trọng. Cùng với sự hỗ trợ của SNV và nhiều tổ chức phi chính phủ khác như IUCN, UNDP, UNESCAP, Tổng cục Du lịch Việt Nam (VNAT) đã và đang tổ chức các -7- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chương trình xây dựng năng lực du lịch cho cộng đồng, lồng ghép các vấn đề phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo như phát động Chương trình Du lịch Bền vững – Xoá đói Giảm nghèo tại Việt Nam, triển khai Dự án Du lịch Tiểu vùng Mê Kông mở rộng.[52] Có thể nói nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về DLCĐ ở Việt Nam mới trong giai đoạn hình thành nên còn không ít hạn chế.2 Khái quát các công trình nghiên cứu về khu vực Tràng An-Bái Đính Kể từ năm 1994 đến nay có thể kể đến một số công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến du lịch khu vực Tràng An-Bái Đính: Một trong số những công trình có tính chất lý luận và thực tiễn cao liên quan tới hoạt động du lịch khu vực TA-BĐ – Trần Đức Thanh (2005), Cơ sở khoa học trong việc thành lập các bản đồ phục vụ quy hoạch du lịch cấp tỉnh ở Việt Nam (Lấy ví dụ ở Ninh Bình). Luận án PTS, Hà Nội. – Vũ Tuấn Cảnh (1997), Nghiên cứu hiện trạng môi trường phục vụ phát triển du lịch khu vực Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động (Ninh Bình), Đề tài cấp Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch.
– Nguyễn Xuân Thảo (2005), Xây dựng thành phố Hoa Lư du lịch, Nxb Văn hoá Dân tộc. – Đặng Văn Bào, Trương Quang Hải (2009), Khu du lịch sinh thái cảnh quan Tràng An-Những giá trị cảnh quan, sinh thái và môi trường, Hà Nội. – Cơ quan Hội di sản văn hoá (2008), Ninh Bình Di sản văn hoá và tiềm năng du lịch, Tạp chí Thế giới Di sản số 09/2008. – UBND tỉnh Ninh Bình (2008), Báo cáo hội thảo khoa học: Giá trị di sản văn hoá cố đô Hoa Lư và khu du lịch sinh thái Tràng An.
– Những bài báo nghiên cứu trên tạp chí: Phạm Đức Ánh (2002), Du lịch ninh Bình phát triển bền vững; Nguyễn Thị Thanh Tâm (2005), Du lịch Ninh Bình phấn đấu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. -8- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com – Bên cạnh đó có những nghiên cứu về du lịch sinh thái của học viên cao học tại khu vực Tràng An, tại Ninh Bình. Hoàng Thị Mỹ Hà (2005), Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Ninh Bình; Phạm Văn Thắng (2009), Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững khu vực Hoa Lư và phụ cận. Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên của các tác giả như: Nguyễn Hữu Tứ, Huỳnh Nhung, Trần Thị Vân (1998), Trương Quang Hải (2007).
Tuy đã đạt một số kết quả tốt, nhưng trong lĩnh vực nghiên cứu đánh giá tài nguyên thực trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng chưa được đề cấp đến trong các nghiên cứu. Trong các nghiên cứu về du lịch chưa thực sự quan tâm đến vai trò của cộng đồng địa phương trong chiến lược phát triển du lịch lâu dài. Nguyên nhân một phần có thể do khu du lịch Tràng An-Bái Đính mới đưa vào hoạt động chính thức được 2-3 năm sau khi mở rộng và quy hoạch lại. Trong đề tài của luận văn, tác giả sẽ tiến hành thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu hiện có, điều tra bổ sung thực trạng du lịch tại địa phương, từ đó phát triển DLCĐ cụ thể chi tiết tại từng thôn xóm, giúp người dân có thểm công ăn việc làm, tăng thu nhập và thêm hiểu biết văn hoá.2 Cơ sở lý luận về du lịch cộng đồng 1.1 Khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng Du lịch cộng đồng hay Du lịch dựa vào cộng đồng (Community tourism/ Community-based tourism) được phát triển đầu tiên tại Mandeville, Jamaica vào năm 1978 và dần lan tỏa ra các nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển như Thái Lan, Malaysia, Costa Rica.
Ở Việt Nam, DLCĐ đặc biệt phát triển ở các khu vực miền núi. Các khái niệm về DLCĐ Khi nghiên cứu về DLCĐ, các tác giả chưa có sự thống nhất. Cũng như khái niệm DLST, mỗi tác giả có cách tiếp cận riêng. -9- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas cho rằng: “DLCĐ là một loại hình du lịch trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý.
Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” [36]. Trong định nghĩa này, Nicole và Wolfgang chú trọng đến vai trò và lợi ích kinh tế mà DLCĐ đem lại cho người dân địa phương. Một quan niệm khác cho rằng: “DLCĐ là một quá trình tƣơng tác giữa cộng đồng (chủ), và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương”. Rõ ràng, tác giả của quan niệm này thiên về khía cạnh xã hội học, nhìn hoạt động du lịch như một môi trường nảy sinh và phát triển các quan hệ xã hội.
Các nhà khoa học theo quan điểm bảo tồn thì cho rằng “DLCĐ là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững. DLCĐ khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo ra các cơ hội cho cộng đồng”. Những hướng tiếp cận trên đều chú ý đến tính bền vững của hoạt động du lịch này, xem nó cũng là một bộ phận của phát triển bền vững. Đại diện cho tư tưởng này là hai định nghĩa sau: DLCĐ là du lịch chú ý đến tính bền vững của môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội.