Chương 1 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Du lịch Có nhiều quan điểm khác nhau về du lịch. Theo đó, có quan niệm cho rằng, du lịch “là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác” [39,tr.
Quan niệm khác cho rằng, du lịch là “việc cung ứng và làm marketing cho các sản phẩm và dịch vụ với mục đích đem lại sự hài lòng cho du khách” [35,tr. Như vậy, về cơ bản, du lịch được hiểu là hoạt động vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, tham quan, khám phá… những địa điểm có di sản, di tích và danh thắng nổi tiếng, nơi có nền văn hóa dân tộc đặc sắc trong thời gian nhàn rỗi. Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 của Việt Nam quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [27]. Luận văn sử dụng định nghĩa của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 để triển khai nghiên cứu.
Có nhiều loại hình du lịch khác nhau, tùy theo cách phân chia. Theo môi trường tài nguyên, hoạt động du lịch được chia làm 2 nhóm lớn là du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên. Ngoài cách phân loại như trên, còn có phân loại theo mục đích hoạt động du lịch thì có thể có du lịch giải trí, du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng hoặc du lịch kết hợp với các hoạt động khác.; phân loại theo lãnh thổ hoạt động thì có du lịch quốc tế, du lịch nội địa….; 10 phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch thì có du lịch biển, du lịch núi.và còn nhiều cách phân loại khác nữa. Với các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú nhằm đáp ứng yêu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí,… thì nhắc đến hoạt động du lịch người ta cũng thường coi đó là ngành kinh doanh tổng hợp mang lại hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao nhận thức về tự nhiên, về lịch sử, văn hóa, đất nước, con người; giới thiệu, quảng bá các giá trị về nền văn hóa độc đáo của Việt Nam mấy nghìn năm văn hiến; hiệu quả về mặt kinh tế; tạo việc làm cho người lao động… Du lịch được xem là ngành công nghiệp không khói, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh các hiệu quả đạt được thì du lịch cũng tạo ra nguy cơ ô nhiễm môi trường; sự phai nhạt bản sắc văn hóa của các cộng đồng có nhiều du khách đến tham quan, sự quá tải về cơ sở hạ tầng,… Chính vì lẽ đó, hoạt động du lịch cần phải được định hướng phát triển. Chính sách phát triển du lịch Để có thể hiểu được chính sách phát triển du lịch, cần thiết phải đề cập đến chính sách công. Trên thế giới nhiều tác giả đã có quan niệm khác nhau về chính sách công, như William N. Dunn cho rằng: “Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” [48,tr.
James Anderson đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [19,tr. Tác giả William Jenkin lại đưa ra khái niệm: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó” [49,tr. 11 Xuất phát từ thực tiễn nước ta, Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” [40].
Tuy có nhiều cách cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác giả đều tập trung vào một trong những đặc trưng quan trọng của chính sách công như: (1) Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; (2) Chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau; (3) Các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn; (4) Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định; (5) Xét theo nghĩa rộng, chính sách công bao gồm những việc nhà nước định làm và không định làm; (6) Chính sách công tác động đến các đối tượng của chính sách; (7) Chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia. Trên cơ sở cách hiểu về chính sách và du lịch, có thể thấy rằng, chính sách phát triển du lịch là các quyết định của nhà nước nhằm phát triển du lịch nhanh và bền vững, phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch; đảm bảo sự gắn kết hài hoà giữa du lịch với kinh tế, xã hội và môi trường. Chính sách phát triển du lịch bao gồm các nội dung cơ bản sau: - Phạm vi và đối tượng của chính sách phát triển du lịch Chính sách phát triển du lịch được ban hành nhằm thúc đẩy các hoạt động du lịch, phát triển sản phẩm du lịch, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch phát triển các hoạt động liên quan đến du lịch. Đối tượng của chính sách bao gồm khách du lịch, cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp lữ hành, các tổ chức, cá nhân… 12 - Mục tiêu của chính sách phát triển du lịch Nghị quyết Đại hội XII của Đảng năm 2016 nêu rõ: “Có chính sách phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch với hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, sản phẩm đa dạng và tính chuyên ngành cao. Tạo mọi thuận lợi vế thủ tục xuất nhập cảnh, đi lại và đảm bảo an toàn, an ninh. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam. Khai thác hiệu quả, bền vững các di sản văn hóa, thiên nhiên, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và giữ gìn vệ sinh môi trường, phát triển các khu dịch vụ, du lịch phức hợp, có quy mô lớn và chất lượng cao” [12].
Để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đây là một tiền đề rất quan trọng trong việc phát triển du lịch của nước ta. Điều này thể hiện quan điểm, mục tiêu rất rõ ràng của Đảng và Nhà nước đã xác định vị trí, tầm quan trọng của ngành du lịch trong phát triển kinh tế hiện nay, góp phần tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác [2]. - Giải pháp của chính sách phát triển du lịch Để du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 06/10/2017 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Và Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030” với mục tiêu “Đến năm 2030, Việt Nam trở thành điểm đến đặc biệt hấp dẫn, thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, du lịch thật sự là ngành kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững” [37]. 13 Từ những quan điểm, mục tiêu lớn như trên, nhiệm vụ và giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cụ thể như sau: Thứ nhất, cần phải có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy phát triển du lịch, tổ chức cơ cấu lại ngành du lịch với tính chuyên nghiệp cao, nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của ngành du lịch sao cho phù hợp với xu thế hiện nay. Thứ hai, cần hoàn thiện thể chế chính sách, tạo động lực mới cho du lịch phát triển. Thứ ba, chú trọng phát triển các sản phẩm du lịch địa phương, tạo ra các sản phẩm mới, hấp dẫn, thu hút du khách.
Thứ tư, tăng cường các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch mang tính chuyên nghiệp và tính liên kết vùng trong du lịch. Thứ năm, huy động các nguồn lực đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch. Thứ sáu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công và ngoài xã hội cho du lịch. Thứ bảy, phát triển du lịch phải gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên du lịch, các giá trị văn hóa và lịch sử dân tộc [2].
- Nguyên tắc chỉ đạo thực hiện chính sách phát triển du lịch Chính sách phát triển du lịch thực hiện theo nguyên tắc cơ bản là phát triển du lịch bền vững theo quy hoạch, kế hoạch có trọng điểm và chọn lọc; phát triển du lịch phải gắn với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, tăng cường liên kết vùng; quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm lợi ích cho cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch [27]. - Nguồn lực thực hiện chính sách phát triển du lịch Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư hạ tầng giao thông tại các khu du lịch quốc gia, các khu vực có tiềm năng du lịch; đầu tư điểm dừng, nghỉ chân cho du khách; nâng cấp, mở rộng, xây dựng cảng hàng không, cảng biển, cảng thủy nội địa chuyên dụng cho khách du lịch; đầu tư các trung tâm tổ chức hội nghị, triể lnãm, mua săm, thể thao, khu vui chơi, giải trí quy mô lớn, hiện đại.