Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Bến Cát được thành lập theo Nghị quyết số 1012/NQ-UBTVQH15 ngày 19 tháng 03 năm 2024 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chính thức trở thành đô thị thứ 5 trực thuộc tỉnh Bình Dương. Với tổng diện tích tự nhiên đạt 23.442,24 ha cùng quy mô dân số trên 115.578 nhân khẩu thường trú và hơn 221.000 nhân khẩu tạm trú, Bến Cát giữ vị trí chiến lược trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km và cách thành phố Thủ Dầu Một 20 km. Địa phương sở hữu nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn phong phú với 2 dòng sông Sài Gòn và Thị Tính bao bọc, cùng các địa danh nổi tiếng như Khu di tích lịch sử Địa đạo Tam giác sắt và Làng tre Phú An.

Mặc dù có nhiều tiềm năng bứt phá, ngành du lịch Bến Cát trong thời gian qua vẫn chưa phát triển tương xứng với tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa. Hoạt động du lịch còn đối mặt với nhiều khó khăn, thiếu sự đầu tư đồng bộ và chưa khai thác hết giá trị gia tăng theo chiều sâu. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch bền vững trên địa bàn thành phố Bến Cát giai đoạn 2022 – 2024 trên cả ba phương diện kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường. Thông qua việc phân tích dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực chứng từ 102 du khách cùng 32 cán bộ quản lý chuyên trách, công trình xác định các rào cản nội tại, đồng thời đề xuất hệ thống 08 giải pháp trọng tâm nhằm định hướng phát triển du lịch địa phương theo hướng bền vững, hiện đại và nâng cao hiệu quả kinh tế giai đoạn 2025 – 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững đa chiều do Todaro và Smith khởi xướng năm 2011, kết hợp cùng định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức Du lịch Thế giới và Điều 175 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017. Theo đó, phát triển du lịch bền vững là quá trình tối ưu hóa lợi ích kinh tế, bảo tồn các giá trị văn hóa xã hội và gìn giữ hệ sinh thái tự nhiên mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Khung phân tích của đề tài tích hợp quan điểm quản trị tài nguyên sinh thái của Hens L và mô hình cân bằng lợi ích cộng đồng bản địa của Machado, đảm bảo hoạt động du lịch vừa mang lại giá trị gia tăng vừa bảo vệ cấu trúc xã hội.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng hệ thống tiêu chuẩn với 3 khái niệm cốt lõi theo quy định tại Điều 3 Luật Du lịch năm 2017:

  1. Du lịch sinh thái: Hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư và kết hợp giáo dục bảo vệ môi trường, vận dụng trực tiếp vào cảnh quan sông ngòi và các vùng nông nghiệp sinh thái.
  2. Du lịch văn hóa: Khai thác các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống nhằm nâng cao hiểu biết của khách tham quan và bảo tồn di sản.
  3. Du lịch cộng đồng: Hoạt động do chính cư dân địa phương quản lý, tổ chức cung cấp dịch vụ và thụ hưởng lợi ích kinh tế trực tiếp.

Hệ thống đánh giá được vận hành qua 9 nguyên tắc cốt lõi, bảo đảm việc sử dụng tài nguyên hợp lý, hạn chế tối đa rác thải và lồng ghép hài hòa vào quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê thành phố Bến Cát, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2022 – 2024 của Ủy ban nhân dân thành phố Bến Cát, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương, cùng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Dữ liệu sơ cấp được tiến hành điều tra thực địa vào cuối năm 2024 thông qua bảng hỏi cấu trúc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, từ mức 1 là hoàn toàn không đồng ý đến mức 5 là hoàn toàn đồng ý. Đề tài khảo sát 2 nhóm đối tượng:

  • Nhóm cán bộ quản lý: Thực hiện điều tra toàn bộ với quy mô 32 cán bộ chuyên trách thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Kinh tế thành phố cùng lãnh đạo Ủy ban nhân dân 8 xã, phường. Do quy mô tổng thể nhỏ nên phương pháp điều tra toàn diện giúp loại bỏ sai số chọn mẫu.
  • Nhóm khách du lịch: Áp dụng công thức Slovin với mức độ tin cậy cao để tính toán cỡ mẫu tối thiểu là 99 du khách từ tổng lượt khách tham quan năm 2024. Tác giả phát ra 110 phiếu bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và thu về 102 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 92,72%.

Các dữ liệu định lượng được làm sạch và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp thống kê mô tả được dùng để tính số bình quân, cơ cấu tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng. Phương pháp so sánh liên năm giúp nhận diện biến động tuyệt đối và tương đối. Ngoài ra, kỹ thuật phân tích ma trận SWOT được kết hợp để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong điều kiện kinh tế thực tiễn của Bến Cát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng phát triển du lịch tại thành phố Bến Cát giai đoạn 2022 – 2024 ghi nhận những kết quả tích cực song hành cùng nhiều nút thắt cần tháo gỡ:

Thứ nhất, hệ thống cơ sở hạ tầng dịch vụ lưu trú và ẩm thực có sự phục hồi và tăng trưởng ổn định sau đại dịch. Số lượng cơ sở lưu trú và cơ sở ăn uống trên địa bàn duy trì tốc độ tăng trưởng dương bình quân khoảng 10% đến 14% mỗi năm. Hệ thống mạng lưới nhà hàng, quán ăn mở rộng nhanh chóng tại các phường trung tâm như Mỹ Phước, Thới Hòa, đáp ứng tốt nhu cầu ăn uống của cư dân đô thị và chuyên gia làm việc tại các khu công nghiệp.

Thứ hai, lượng khách du lịch và doanh thu ngành dịch vụ du lịch ghi nhận mức tăng trưởng đều qua các năm 2022, 2023 và 2024, với tốc độ tăng doanh thu ước tính đạt trên 15% mỗi năm. Việc mở rộng mạng lưới giao thông kết nối các trục đường huyết mạch như Quốc lộ 13, đường ĐT 744 và tuyến đường Vành đai 4 tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển liên vùng.

Thứ ba, ngành du lịch đóng góp tích cực vào công tác an sinh xã hội địa phương, giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động trực tiếp và gián tiếp. Tỷ lệ lao động dịch vụ du lịch tăng trưởng khoảng 8% đến 12% mỗi năm, góp phần chuyển dịch cơ cấu việc làm từ nông nghiệp sang dịch vụ, nâng cao thu nhập thực tế của người dân bản địa.

Thứ tư, thời gian lưu trú bình quân của du khách còn rất ngắn, chỉ dao động từ 1,1 đến 1,2 ngày/khách. Phần lớn du khách chỉ tham quan trong ngày rồi rời đi, mức chi tiêu bình quân trên một lượt khách còn thấp, khiến nguồn thu từ dịch vụ bổ trợ chưa đạt kỳ vọng.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp dữ liệu khảo sát 102 du khách qua hệ thống bảng thống kê và biểu đồ phân phối điểm đánh giá, mức độ hài lòng về cảnh quan tự nhiên tại các điểm đến như Làng tre Phú An hay sông Sài Gòn đạt mức khá, dao động từ 3,6 đến 3,9 điểm trên thang đo 5 điểm. Ngược lại, tiêu chí cơ sở hạ tầng giải trí, dịch vụ bổ trợ về đêm và tính đa dạng của sản phẩm du lịch chỉ đạt mức trung bình, dao động quanh 3,1 điểm.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do Bến Cát tập trung phần lớn nguồn lực trong giai đoạn vừa qua vào phát triển công nghiệp và mở rộng hạ tầng đô thị. Hoạt động du lịch sinh thái và văn hóa chưa được quy hoạch thành các chuỗi sản phẩm liên hoàn. Khoảng cách địa lý gần Thành phố Hồ Chí Minh chỉ 50 km tạo lợi thế về nguồn khách nhưng lại gây bất lợi lớn cho việc giữ chân khách ở lại qua đêm nếu thiếu các khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn và các hoạt động kinh tế ban đêm.

So sánh với các địa phương đã chuyển đổi thành công như Hạ Long hay Nha Trang, bài học rút ra cho Bến Cát là cần có cơ chế phối hợp công tư chặt chẽ, trích nguồn thu từ dịch vụ để tái đầu tư bảo tồn môi trường sinh thái dòng sông và tôn tạo các di tích cách mạng, thay vì chỉ khai thác tự nhiên sẵn có.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và phân tích ma trận SWOT, đề tài đưa ra các nhóm giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy du lịch Bến Cát phát triển bền vững:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch sinh thái ven sông. Ủy ban nhân dân thành phố Bến Cát phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương triển khai đồ án quy hoạch dải hành lang xanh dọc sông Sài Gòn và sông Thị Tính trong giai đoạn 2025 – 2027. Mục tiêu là thu hút khoảng 300 tỷ đồng vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp để xây dựng các bến thuyền du lịch, khu nghỉ dưỡng miệt vườn và đường dạo bộ sinh thái thân thiện với môi trường.

Thứ hai, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch đặc thù. Doanh nghiệp lữ hành liên kết với Ban quản lý Di tích lịch sử Địa đạo Tam giác sắt và Làng tre Phú An xây dựng các gói tour trải nghiệm kết hợp giáo dục lịch sử, trải nghiệm làng nghề truyền thống và nghỉ dưỡng nông nghiệp công nghệ cao. Phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân của du khách từ 1,2 ngày lên mức 1,8 ngày vào năm 2028.

Thứ ba, chuẩn hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố chủ trì phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ buồng phòng, ẩm thực và hướng dẫn viên cho các hộ kinh doanh. Mục tiêu đặt ra là đạt trên 85% lao động trực tiếp trong ngành du lịch được đào tạo nghiệp vụ chuẩn trước năm 2026.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và liên kết xúc tiến vùng. Ủy ban nhân dân thành phố xây dựng cổng thông tin du lịch thông minh, tích hợp bản đồ số hóa các điểm đến và áp dụng ứng dụng thuyết minh tự động qua mã quét thông minh. Thiết lập mạng lưới liên kết tour tuyến với các công ty du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tây Ninh, hướng tới mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng lượng du khách ổn định 20% mỗi năm trong giai đoạn 2026 – 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho nhiều nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước: Cán bộ chuyên trách tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương, Ủy ban nhân dân thành phố Bến Cát cùng các phòng ban liên quan có thể sử dụng kết quả khảo sát từ 32 cán bộ và các khuyến nghị chính sách làm cơ sở xây dựng kế hoạch hành động phát triển kinh tế dịch vụ giai đoạn 2025 – 2030.
  2. Doanh nghiệp du lịch và lữ hành: Các đơn vị kinh doanh vận chuyển, lưu trú, ăn uống có thể khai thác dữ liệu đánh giá thị hiếu của 102 du khách để điều chỉnh sản phẩm, thiết kế các chương trình khuyến mãi và tour liên kết ngắn ngày đón khách từ các đô thị lân cận.
  3. Giảng viên và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Quản trị dịch vụ du lịch có thể tham khảo quy trình áp dụng công thức Slovin, phương pháp xử lý bảng hỏi Likert và khung lý thuyết phát triển bền vững 3 trụ cột cho các đề tài nghiên cứu tương đồng.
  4. Cộng đồng dân cư và hộ kinh doanh địa phương: Cung cấp định hướng để người dân tại 8 xã, phường nắm bắt cơ hội tham gia mô hình du lịch cộng đồng, phát triển ẩm thực đặc sản và bảo tồn cảnh quan môi trường sống nhằm tạo thu nhập ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Thành phố Bến Cát sở hữu những tiềm năng tự nhiên và văn hóa nổi bật nào để phát triển du lịch bền vững?

Bến Cát có lợi thế độc đáo với 2 dòng sông lớn là sông Sài Gòn và sông Thị Tính, rất thuận lợi cho du lịch sinh thái sông nước. Bên cạnh đó, địa phương sở hữu Di tích lịch sử Địa đạo Tam giác sắt và Làng tre Phú An - khu bảo tồn tre tự nhiên lớn nhất Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc để phát triển các tour du lịch về nguồn và giáo dục môi trường.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu nào để bảo đảm tính đại diện của dữ liệu thực tế?

Tác giả sử dụng công thức Slovin để tính toán cỡ mẫu tối thiểu cho khách du lịch là 99 người, sau đó tiến hành phát ngẫu nhiên 110 phiếu và thu về 102 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 92,72%. Đối với nhóm cán bộ quản lý, nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn bộ 32 cán bộ chuyên trách tại các phòng ban và 8 xã, phường nhằm bảo đảm tính bao quát cao.

Những hạn chế lớn nhất của ngành du lịch Bến Cát trong giai đoạn 2022 – 2024 là gì?

Mặc dù số lượng cơ sở lưu trú và ăn uống tăng trưởng dương từ 10% đến 14% mỗi năm, ngành du lịch địa phương vẫn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Hạn chế lớn nhất là thời gian lưu trú bình quân của du khách chỉ đạt từ 1,1 đến 1,2 ngày/khách do thiếu sản phẩm vui chơi ban đêm và chuỗi dịch vụ gia tăng đồng bộ.

Tại sao thời gian lưu trú bình quân của du khách tại Bến Cát hiện nay vẫn còn ở mức thấp?

Nguyên nhân xuất phát từ việc Bến Cát nằm rất gần Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km và cách Thủ Dầu Một 20 km, khiến phần lớn du khách lựa chọn lịch trình đi về trong ngày. Thêm vào đó, hạ tầng nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp chưa được đầu tư hoàn chỉnh và các điểm đến chưa tạo được nhiều hoạt động trải nghiệm kéo dài.

Mục tiêu trọng tâm của các giải pháp phát triển du lịch Bến Cát đến năm 2030 là gì?

Đề tài đề xuất 08 nhóm giải pháp tập trung vào khai thác sinh thái ven sông, thu hút 300 tỷ đồng vốn xã hội hóa và đào tạo trên 85% lao động đạt chuẩn chuyên môn. Địa phương hướng tới việc nâng thời gian lưu trú lên 1,8 ngày vào năm 2028 và đạt mức tăng trưởng du khách 20% mỗi năm giai đoạn 2026 – 2030.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển du lịch bền vững dựa trên 3 trụ cột kinh tế, xã hội và tài nguyên môi trường, vận dụng sát hợp vào bối cảnh đô thị mới của Bến Cát.
  • Phân tích thực trạng giai đoạn 2022 – 2024 chỉ ra sự tăng trưởng tích cực của hạ tầng dịch vụ lưu trú, ăn uống với mức tăng bình quân trên 10% mỗi năm, song thời gian lưu trú của khách vẫn là điểm nghẽn lớn khi chỉ đạt 1,2 ngày.
  • Đóng góp khoa học then chốt của công trình là lượng hóa mức độ hài lòng của 102 du khách và 32 cán bộ quản lý thông qua thang đo Likert, làm cơ sở thực chứng vững chắc cho công tác điều hành chính sách.
  • Lộ trình thực thi 08 giải pháp trọng tâm được thiết lập rõ ràng theo hai giai đoạn: hoàn thiện quy hoạch hạ tầng và nâng chuẩn 85% nhân lực giai đoạn 2025 – 2027, sau đó bứt phá sản phẩm sinh thái và chuyển đổi số giai đoạn 2028 – 2030.
  • Các cấp chính quyền thành phố Bến Cát và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng hành động, triển khai đồng bộ quy hoạch dải sinh thái ven sông và liên kết vùng nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế dịch vụ mũi nhọn, đóng góp xứng tầm vào sự thịnh vượng chung của tỉnh Bình Dương.