phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chủ yếu của luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan cơ sở lí luận về phát triển du lịch theo định hƣớng bền vững. Các điều kiện phát triển du lịch khu vực hồ thủy điện Hòa Bình Chƣơng 3. Đánh giá thực trạng phát triển du lịch khu vực hồ thủy điện Hòa Bình theo định hƣớng bền vững.
Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch khu vực hồ Hòa Bình theo định hƣớng bền vững. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO ĐỊNH HƢỚNG BỀN VỮNG 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu du lịch theo hƣớng bền vững ở khu vực hồ thủy điện 1. Tổng quan nghiên cứu du lịch theo hướng bền vững Đầu những năm 90, khái niệm về “du lịch bền vững” mới bắt đầu đƣợc đề cập đến do những tác động tiêu cực đến môi trƣờng ngày càng rõ rệt. Bên cạnh đó, một số loại hình du lịch quan tâm đến môi trƣờng bắt đầu xuất hiện nhƣ: du lịch gắn với thiên nhiên, du lịch khám phá, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm,… ngày càng góp phần nâng cao hình ảnh về loại hình du lịch đảm bảo sự bền vững.
Năm 1997, hƣởng ứng Chƣơng trình Nghị sự Trái đất, ngành du lịch toàn cầu đại diện bởi ba tổ chức quốc tế gồm: Tổ chức du lịch thế giới, Hội đồng lữ hành du lịch thế giới (WTTC) và Hội đồng Trái Đất (Earth Council) đã ứng dụng những nguyên tắc Agenda 21 vào du lịch, phối hợp xây dựng một chƣơng trình hành động với tên gọi “Chƣơng trình nghị sự 21 về du lịch hƣớng tới sự phát triển về môi trƣờng” của UNWTO [61]. Chƣơng trình này có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp du lịch, các cơ quan du lịch, quốc gia, các tổ chức thƣơng mại và khách du lịch. 10 - 2008, chủ tịch Quỹ tài trợ Liên hợp quốc (United Nations Foundation) tập hợp Liên minh Rừng nhiệt đới, Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức Du lịch thế giới Liên hợp quốc (UNWTO) nhằm công bố tiêu chí du lịch bền vững toàn cầu lần đầu tiên tại Hội nghị Bảo tồn Thế giới của Liên minh bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN)[54]: Các tiêu chí đƣợc phát triển để cung cấp khung hƣớng dẫn hoạt động du lịch bền vững, giúp các doanh nhân, ngƣời tiêu dùng, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và các cơ sở giáo dục đảm bảo rằng hoạt động du lịch là nhằm giúp đỡ chứ không làm hại cộng đồng và môi trƣờng địa phƣơng. Tại Việt Nam có một số các công trình tiêu biểu nhƣ “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ (1998) [24] đã tổng quan cơ sở lý luận của tổ chức lãnh thổ du lịch, khái quát sự phân hóa lãnh thổ du lịch Việt Nam và giới thiệu các vùng du lịch Việt Nam.
Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu (2001) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com [13]: “Du lịch bền vững” cuốn sách giới thiệu những vấn đề về mối quan hệ giữa du lịch và môi trƣờng, khái niệm, nguyên tắc, chính sách của du lịch bền vững; ngoài ra, các tác giả nghiên cứu du lịch bền vững những vùng nhạy cảm nhƣ du lịch miền núi, du lịch ven biển,…. Tổng quan nghiên cứu phát triển du lịch theo hướng bền vững ở các hồ thủy điện Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu đến hồ thủy điện nhƣng các nghiên cứu có các hƣớng khác trong đó cũng có các nghiên cứu về phát triển du lịch của hồ thủy điện. Nghiên cứu của công ty Essential Economics [50] đã chỉ ra những đặc thù của du lịch hồ thủy điện khác với những địa bàn khác, đó là: 1. Sự hấp dẫn và hoạt động du lịch chịu ảnh hƣởng bởi sự thay đổi mực nƣớc hồ và vƣợt quá sự kiểm soát của một nhà điều hành du lịch; 2.
Hồ chứa là nơi cung cấp nƣớc nên nhiều hoạt động du lịch bị hạn chế để tránh ảnh hƣởng đến nguồn nƣớc. Ở miền Bắc Việt Nam, công trình đầu tiên đƣợc xây dựng là hồ thủy điện Thác Bà hoàn thành năm 1971, thủy điện Hòa Bình xây dựng năm 1979 và sau đó nhiều nhà máy thủy điện đƣợc xây dựng, tạo ra vùng cảnh quan lòng hồ hấp dẫn. Bởi vậy, một số địa phƣơng có nhà máy thủy điện trong những năm gần đây đã hình thành du lịch sinh thái cho du khách tham quan vùng lòng hồ. Tuy nhiên, khi nghiên về tác động của các hồ thủy điện, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung cuộc sống ngƣời dân và kiến nghị những giải pháp sinh kế bền vững.
Ví dụ nhƣ Đan Tiếp Phúc (2012) [18] cho rằng nguồn nƣớc tự nhiên và hệ sinh thái ven sông – nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc vùng hạ lƣu thuộc tỉnh Hòa Bình nói riêng và các tỉnh khác bị ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nguồn nƣớc sinh hoạt, đời sống dân sinh và giao thông đƣờng thủy. Đồng tình với nghiên cứu trên, Nguyễn Thế Hiệu (2012) [12] cũng cho rằng cộng đồng dân cƣ vùng hạ lƣu của đập thủy điện đang phải sống chung cùng với các ảnh hƣởng do đập thủy điện gây ra về sử dụng nguồn nƣớc trong sinh hoạt và sản xuất, đồng thời phải duy trì các hoạt động sinh kế có thể đảm bảo cuộc sống. Tuy nhiên, cả hai tác giả đều không đƣa giải pháp phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi hình thành du lịch ở khu vực lòng hồ thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu đánh giá đây là những điểm có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch.
Nguyễn Hoàng Yến (2018) nghiên cứu xây dựng mô hình du lịch bền vững vùng lòng hồ thủy điện Sơn La gắn với bảo vệ sinh thái, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc, góp phần giảm nghèo cho cƣ dân vùng lòng hồ thủy điện Sơn La [41]; đặc biệt đề xuất 8 giải pháp để phát triển du lịch bền vững lòng hồ. Đây là nghiên cứu có ý nghĩa với đề tài du lịch phát triển bền vững khu vực lòng hồ thủy điện Hòa Bình, tác giả sẽ có những kinh nghiệm đúc rút từ đề tài đã nghiên cứu. Ngoài ra, nghiên cứu Nguyễn Hoàng Yến và Hoàng Xuân Trọng đã phân tích đánh giá tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của thủy điện Thác Bà, Hòa Bình và Na Hang [40], các tác giả đã đƣa ra những tồn tại hạn chế, nguyên nhân và đƣa ra những bài học kinh nghiệm để phát triển du lịch bền vững vùng lòng hồ thủy điện Sơn La. Bài báo có ý nghĩa rất lớn về mặt khái quát phát triển du lịch không chỉ ở thủy điện Hòa Bình mà còn các vùng lòng hồ thủy điện khác, giúp tác giả có cái nhìn toàn diện du lịch lòng hồ.
Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang của Nguyễn Đức Khoa [15] đã phân tích những điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ở Na Hang, bao gồm: Tiềm năng và tính chất du lịch Na Hang, các điều kiện về tài nguyên du lịch, cộng đồng dân cƣ, cơ sở hạ tầng và vật chất kĩ thuật, các chính sách và sự hỗ trợ; tác giả cũng đƣa ra hiện trạng khai thác các điều kiện phát triển du lịch cộng đồng và phân tích các điểm mạnh và hạn chế cũng nhƣ cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch cộng đồng Na Hang. Hồ thủy điện là công trình nhân tạo đa chức năng, trong đó đƣợc coi là một tài nguyên du lịch hấp dẫn. Sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch lòng hồ không chỉ các giá trị di sản tự nhiên mà bao gồm các giá trị nhân văn của khu vực lòng hồ và phụ cận. Điểm hạn chế của du lịch ở vùng hồ thủy điện đó là chịu ảnh hƣởng của tính thời vụ.
Để du lịch ở khu vực lòng hồ thủy điện thực sự phát triển khắc phục tính mùa vụ, giữ chân đƣợc khách du lịch thì cần có sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng, những ngƣời dân sinh sống ở đó với những phong tục tập quán hấp dẫn. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tổng quan nghiên cứu phát triển du lịch hồ Hòa Bình Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Vân (2015) [37] và Hoàng Văn Tứ (2009)[28] đã nêu khái quát nguồn lực, thực trạng phát triển du lịch tại khu du lịch hồ Hòa Bình: số lƣợt khách, tổng thu từ du lịch, hiện trạng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, xúc tiến quảng bá du lịch, thị trƣờng và sản phẩm du lịch,…và những vấn đề đặt ra phát triển du lịch khu vực này. Nguyễn Thị Hồng Vân (2007) nghiên cứu sự ảnh hƣởng của hoạt động du lịch đến toàn bộ đời sống kinh tế, văn hoá xã hội của ngƣời Thái; cung cấp một hệ thống thông tin đầy đủ về lịch sử hình thành và phát triển, thực trạng hoạt động du lịch và những tác động tích cực, tiêu cực của du lịch đến đời sống của ngƣời dân, từ đó tác giả đề xuất hƣớng phát triển bền vững cho du lịch cộng đồng ở Mai Châu [36].
Tác giả Đặng Hoàng Giang (2011) đã nghiên cứu vận dụng mô hình du lịch cộng đồng tại huyện Mai Châu đối với sự phát triển du lịch tại một số bản dân tộc thiểu số của huyện Cao Phong; từ đó, đã đƣa ra những hƣớng khai thác tài nguyên du lịch nhân văn và những biện pháp bảo vệ giá trị văn hoá truyền thống để phục vụ mục đích phát triển du lịch [8]. Nghiên cứu khác về phát triển du lịch cộng đồng nguời Mƣờng, Nghiêm Thị Thu Huyền đã nghiên cứu tiềm năng sinh thái nhân văn và hiện trạng phát triền du lịch gắn với cộng động ngƣời Mƣờng ở hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình), tác giả cũng đã đề xuất giải quyết những vấn đề tồn tại trong phát triển du lịch gắn với cộng đồng [14]. Trong nghiên cứu: “Phát triển du lịch lòng hồ thủy điện Hòa Bình” của Đặng Hòa Hà [9] cũng đã phân tích thấy tiềm năng phát triển, thực trạng hoạt động du lịch tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình và đƣa ra định hƣớng, giải pháp khai thác hợp lí tài nguyên du lịch và vấn đề bảo vệ tài nguyên du lịch tại lòng hồ thủy điện Hòa Bình. Các nghiên cứu trên đều đánh giá tiềm năng phát triển du lịch thủy điện Hòa Bình.
Tuy nhiên, hƣớng bảo tồn cho sự phát triển du lịch bền vững của khu vực còn hạn chế.