phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận của đề tài Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động du lịch và việc bảo tồn phố cổ Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp phát triển du lịch góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội 7. Đóng góp của luận văn - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về văn hóa, du lịch văn hóa, phát triển du lịch gắn với bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. - Nghiên cứu, khảo sát thực tế hoạt động du lịch tại phố cổ Hà Nội, thực trạng bảo tồn phố cổ Hà Nội và những tác động của du lịch đối với việc bảo tồn phố cổ Hà Nội. - Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch nhƣng phát triển là để góp phần bảo tồn phố cổ Hà Nội.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VỚI BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 1.Những vấn đề lý luận về văn hóa và du lịch văn hóa 1. Văn hóa Văn hóa là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã hội loài ngƣời.Từ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa. Ở Phƣơng Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Trong tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn)… Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngƣỡng, phong tục, lối sống, lao động….
TSKH Trần Ngọc Thêm thì “ văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình”1. Định nghĩa này đã nêu bật 4 đặc trƣng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Phan Ngọc đƣa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao tác luận, khác với những định nghĩa trƣớc đó “Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngƣợc lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ.
Nó là mối quan hệ giƣa thế giới biểu tƣợng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc ngƣời, một cá nhân so với một tộc ngƣời khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc 1 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tất cả mọi cái mà tộc ngƣời tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc ngƣời khác. Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể của những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền co bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng; Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí.
Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vƣợt trội lên bản thân” 2. Nhƣ vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra. Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.
Di sản văn hóa Theo từ điển Tiếng Việt thì “ Di sản” đƣợc hiểu là “ cái của thời trƣớc để lại”.TS Trần Ngọc Thêm thì văn hóa có đặc trƣng là tính hệ thống và tính lịch sử. Văn hóa đƣợc lƣu truyền cùng với sự phát triển của con ngƣời qua từng thế hệ”3. Theo GS Từ Chi thì “văn hóa là những gì phi tự nhiên”4, tức là những gì không phải tự nhiên mà đƣợc con ngƣời biến đổi đều đƣợc coi là văn hóa. Ngoài ra, có nhà nghiên cứu còn cho rằng văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên hết.
2 Trần Quốc Vƣợng (2006), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr. 3 Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr. 4 Dẫn theo Nguyễn Từ Chi, Sđd, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Điều 1 của Luật di sản văn hóa thì khẳng định: “ Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và DSVH phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”5.
Di sản văn hóa là cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, giữa kế thừa và phát triển. Di sản văn hóa tồn tại trong hiện tại là cái đã đƣợc tích lũy, hình thành từ trƣớc đó, cái đƣợc truyền lại từ quá khứ và mang dấu ấn của quá khứ. Sự trao truyền văn hóa qua các thế hệ nhƣ thế tạo nên cho văn hóa tính liền mạch, hình thành bản sắc riêng của từng dân tộc. Nhƣ vậy, di sản văn hóa đƣợc khái quát lại là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong hệ thống giá trị của nó, đƣợc chủ thể nhận biết và đƣa vào sử dụng nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại.
Du lịch văn hóa Du lịch văn hóa là một khái niệm có nhiều định nghĩa và nhiều cách hiểu. “ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hƣởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội” (ICOMOS) “ Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hƣớng vào việc qui hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa cổ kim”6.
“ Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa dân tộc và đƣợc tổ chức một cách có văn hóa”7. Nhƣ vậy, du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy việc khai thác tài nguyên văn hóa làm mục đích, khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển nhƣ một nguồn tài nguyên du lịch. Du lịch văn hóa là phƣơng tiện truyền tải các 5 Luật Di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành (2003), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr. 6 Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội, tr.
7 Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – một công cụ bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, Bảo vệ môi trƣờng du lịch, Tổng cục Du lịch, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giá trị văn hóa của một địa phƣơng, một dân tộc, một quốc gia cho du khách khám phá, thƣởng ngoạn, học tập, giao lƣu. Nó góp phần đánh thức, làm sống dậy các giá trị văn hóa. Thông qua du lịch, các di sản văn hóa đƣợc bảo vệ, tôn tạo, phục hồi và phát huy giá trị.
Tài nguyên du lịch văn hóa Du lịch văn hóa sử dụng di sản văn hóa nhƣ một nguồn lực, là nguồn tài nguyên độc đáo, là “nguyên liệu” để hình thành nên hoạt động du lịch. Nguồn nguyên liệu di sản văn hóa có hai loại cơ bản: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa vật thể là những sáng tạo của con ngƣời, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng các giác quan nhƣ thị giác, xúc giác. Chẳng hạn nhƣ các di tích lịch sử văn hóa, hang thủ công, công cụ sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Còn di sản văn hóa phi vật thể chính là các lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp…, lại đƣợc cảm nhận một cách gián tiếp và “ vô hình”.
Dƣới góc độ du lịch, các nhà nghiên cứu xếp các thành tố văn hóa vào tài nguyên du lịch nhân văn (phân biệt với tài nguyên du lịch tự nhiên nhƣ biển, hồ, núi sông, hang động…). Cùng với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là một trong những điều kiện phát triển du lịch của mỗi quốc gia, vùng miền, địa phƣơng. Giá trị của những di sản văn hóa cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội… là đối tƣợng cho du khách khám phá, thƣởng thức Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên này còn quyết định tới qui mô, thể loại, chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động du lịch của mỗi vùng miền. Tuy nhiên, không phải yếu tố văn hóa nào cũng trở thành tài nguyên du lịch nhân văn.
Chỉ có những tài nguyên có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội, môi trƣờng mới đƣợc gọi là tài 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nguyên du lịch nhân văn. Chỉ có những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ du lịch mới đƣợc coi là tài nguyên du lịch nhân văn. Vì vậy, tài nguyên du lịch nhân văn thƣờng là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mội địa phƣơng, mỗi quốc gia. Tài nguyên du lịch nhân văn có những tính chất chung là: Đa dạng (làm phong phú sản phẩm du lịch), Hấp dẫn (thu hút khách du lịch), Độc đáo (là nét riêng có, đặc trƣng), Không dịch chuyển (ngay cả khi có các sản phẩm mô phỏng cũng không thay thế đƣợc), và Dễ tổn thất 8.