CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ PHÁT TRIÊN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DAY AN HOA TAI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHÈ NGHIỆP — GIÁO DUC THUONG XUYEN CAP HUY! 1.1, Téng quan nghiên cứu vấn dé 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Bước vào thể kỷ XXI, một thể kỷ của nền kinh tế trí thức vả hội nhập quốc tế, với sự phát triển manh mẽ của khoa học kỹ thuật cùng văn minh công nghệ thông tin, vai trò của con người là yêu tổ quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. dục - đào tạo có vị trí, vai trò quan trọng hàng đầu trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Con người chính là yế lóng vai trò quyết định cho sự phát triển và của xã hội.
Vì vậy, Chính phủ các nước đặc biệt quan tâm, đầu tư cho con người. Trên thể giới các nước xác định xây dựng va phat trién ĐNGV được đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong cuộc cách mạng cải cách giáo dục, đắp ứng nhu cầu thực tiễn nhằm phát triển đất nước. Vì vậy, nhà trường có mí trí, vai trò hết sức quan trọng, mã ĐNGV chính là nhân tổ làm nên bộ mặt nhà trường, ính họ là những người được xã hội giao phỏ trọng trách đảo tao thé hé trẻ, những người chủ tương lai của đất nước. ĐNGV phải giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ vả giỏi về khoa học không cô giáo viên giỏi, tâm huyết, yêu nghề thì khỏ mà có học trỏ giỏi.
Hâu hết các quốc gia trên thể giới đều coi hoạt động bồi dưỡng ngũ giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo đục. Việc tạo điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thưởng xuyên. học tập suốt đời đẻ kịp thời bỗ sung kiến thức vả đổi mới phương pháp giảng dạy để phủ hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành động của các cắp quản lý giáo dục. Không phủ nhận nền giáo dục.
của các quốc gia châu Á vẫn còn một số hạn chế, thể nhưng tính phô cập, bao quất và chuyên sâu quả thực là những thế mạnh vượt trội giúp cho chương trình giáo dục ở nơi đây sánh ngang với hệ thống giáo dục tiên tiến và hiện đại ở các nước phương Tây. Những quốc gia được để cập sau đây là mình chứng rất tiêu biều cho chất lượng giáo. dục của các quốc gia tại khu vực châu Á. Malaysia xác định hướng đào tạo giáo viên là tạo ra những giáo viên cao quý.
chu đáo, trí thức, khẻo léo, sang tạo và đôi mới, kiên trì và có năng lực, tầm nhìn khoa học, cam kết duy trì những khát vọng của đất nước, tự hào về di sản và tận tâm vì sự phát triển của cả nhân vả bảo toàn một xã hội thống nhất, tiền bộ và cỏ kí luật. Định hướng này được cu thể hỏa thành nguyên lí trong chương trình đảo tạo giảo viên, trong đó khuyến khích sự phát triển sự hài hỏa, mọi tiềm năng của cá nhân, được dao tao va có kĩ năng và Bộ Giáo dục dảm bảo đáp ứng những nguyện vong đó. Singapore là quốc gia nỏi tiếng với cách tiếp cận toàn điện trong. lệc xác định và nuôi dưỡng những mắm non cho nghề đạy học.
Họ phát triển cả một hệ thống toàn diện tử lựa chọn, đảo tạo, đãi ngộ và phát triển giáo viên, hiệu trưởng, bởi vậy họ đã tạo ra nguồn lao động dồi dào cho nghề dạy học. Ở Singapore, những nhân tải học sẽ được xác định và nuôi dưỡng từ sớm. Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng vả đảo tạo lại cho đội ngũ giáo viền, cán bộ quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đổi với người lao động sư phạm. Tủy theo thực tế của.
từng đơn vị, từng cá nhân mà cấp quản lý giáo dục đề ra các phương thức bồi dưỡng. khác nhau trong một phạm vỉ theo yêu cầu nhất định. Cụ thể lả mỗi cơ sở giáo dục cử tử 3 đến S giáo viên được đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều. vào đổi mới phương pháp đạy học.
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việ ôi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản. huấn luyện kỹ năng nghề nại và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội. Tại Triều Tiên một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi dưỡng và đảo tạo lại cho đội ngũ giáo viên. Tất ca giáo viên đều phải tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình về nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo quy.
Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi dưỡng giáo viên mới” để bỗi dưỡng đội ngũ giáo viên được thực hiện trong 10 năm và "Chương trình trao đổi” để đưa giáo. viên đi tập huấn ở nước ngoa Các nghiên cứu cụ thể về phát triển đội ngũ giáo viên ở nước ngoài có thể kể đến những công trình dưới đây. Nghiên cứu "Phát triển năng lực nghễ nghiệp của giáo viên giáo dục ngÌ nghiệp” ở Hà Lan, các tác giải chỉ ra rằng, giáo viên dạy ở các cơ sở giáo dục nghề nại cần dành một phần trăm số giờ làm việc đẻ thực hiện các công việc phát triển năng lực nghề nghiệp của mình. Nghiên cứu cũng chỉ ra các chính sách cho giáo viên làm việ tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có cơ hội phát triển năng lực nghề nghiệp.
của cả nhân[ 1] Phân tích mối quan hệ giữa năng lực kỳ thuật số của đội ngũ giáo viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Quốc gia tự trị Andalusia, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lực kỹ thuật số của giáo viên giáo dục nghề nghiệp được thể hiện ở mức. trung bình đến thấp trên tất cả các khía cạnh [12] Thể giới đang từng giờ, từng ngây phát triển nhanh và mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, giáo dục cũng không ngoại lệ. Môi trưởng giáo dục trên thế giới đã và đang. bién đôi rất nhanh, kỳ vọng của toàn xã hội đói với nhà trường là rất lớn.
Vì vậy, trách. nhiệm của nhà giáo, của người giáo viên ngày cảng cao. Đòi hỏi mỗi nhà giá mỗi người giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyên cả về phẩm chất và năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vả nghiên cửu khoa học dé ngảy cảng hoàn thiện bản thân, Đội ngũ giáo viên không chỉ là người chia sé kiến thức và kỹ năng mà còn là người góp phần nuôi dưỡng, phát triển tâm hồn, hình thành nhân cách cho thể hệ trẻ, Vi lẽ đó, việc chăm lo phát triển đội ngũ nhà giáo là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục vả đào tạo suốt quá trình xây dựng và phát triển của các nhà trường nói riêng, của ngành giáo dục nói chung. ĐNGV có vai trỏ vô củng quan trọng.
được xem là yếu tô then chốt để phát triển giáo dục. Việc phát triển ĐNGV là yêu cầu, là yếu tố khách quan quyết định đối với nhà trường nói chung, đổi với giáo viên nói riêng. Các tác giả ở nước ngoài như: MLL Kéndacép - Co sé ly luận khoa học quản lý giáo dục - Trường Cán giáo dục và Viện Khoa học giáo dục [10], 1984; Harld- Koontz - Những vẫn để cốt yếu về quản lí - nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, 1992 [§] Tóm lại: Phát triển DNGV, xây dựng nguôn nhân lực có chất lượng cao là rất cần thiết và cấp bách để đáp ứng yêu cầu thực tiễn nâng cao chất lượng của hệ thống giao dục nói chung vả hệ GDTX nỗi riên ĐNGV chính là người qu' bại của nền giáo dục; không có đội ngũ giáo viên chất lượng cao thì không thể nâng. cao chất lượng, không có giáo viên giới thì không thể có thể hệ học sinh giỏi.
Cũng như không có một nền giáo dục tốt thi khó mà phát triển được đất nước. Các nghiên cứu ở trong nước Trai qua hon 60 năm xây dựng, phát triển cho đến hôm nay nền giáo dục nước ta đã xây dựng nên một hệ thông giáo dục tương đối hoàn chỉnh, từ bậc giáo dục Mẫm. non đến bậc giáo dục Đại học, đáp ứng được nhu cầu nâng cao dân trí, đảo tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tải cho xã hội. Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ÿ nghĩa lịch sử.
Cũng trong khoảng thời gian trước và sau khi nước ta tiễn hành đổi mới, thế giới chứng ki ắ về mọi mặt. Các cuộc cách mạng công nghiệp lân thứ ba và lần thứ tư nỗi tiếp nhau ra. đời, kinh tế trì thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đôi thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ phát triển và chậm phát triển. Mặt khác, những biến đ „ tỉnh trạng cạn kiệt tài nguyên.
ô nhiễm môi trường, mắt cân bằng sinh thái và những biến động về chính 9 trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toản cầu. Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn. nhân lực, trang bị cho các thể hệ tương lai nền tảng văn hoá vững chắc và năng lực thịch ứng cao trước mọi biên động của thiên nhiên và xã hội. Đôi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu.
Xu thế phát triển chương trình giáo dục và sách giáo khoa của thể giới thay đổi rất nhanh; có nhiều thành tựu mới của khoa học giáo dục cần được bô sung kịp thời vào chương trình giáo dục. Đầu thể kỉ XXI nhiều nước có nền giáo dục phát triển đã chuyển hướng từ chương trình giáo dục coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình giáo dục coi trọng phát triển năng lực. người học. Theo đó, chương trình giáo dục Việt Nam cân đổi mới để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Trong bồi cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng II năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn điện giáo dục và đảo tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp.
hoá, lên đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc uốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng I1 năm 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đồi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đảo tạo.