Chương 1: Cơ sở lý luận chung về phát triển đội ngũ giáo viên tại các cơ sở dạy nghề Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên tại Trường Cao đẳng nghề Đà Nẵng Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tại Trường Cao đẳng nghề Đà nẵng đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020 4 CHUONG 1 CO SO LY LUAN CHUNG VE PHAT TRIEN DOI NGU GIAO VIEN TAI CAC CO SO DAY NGHE 1. MOT SO KHAI NIEM CO BAN 1.1 Khái niệm dạy nghề Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Dạy nghề được phân loại: Dạy nghề chính quy, dạy nghề thường xuyên. Hình thức dạy nghề rất phong phú và đa dạng, bao gồm: Dạy nghề dài hạn; Dạy nghề ngắn hạn: Dạy nghề theo modul; Dạy nghề kèm cặp; Dạy nghề lưu động; Dạy nghề theo cấp học, Sơ cấp, Trung cấp, Cao đăng.2 Khái niệm Cơ sở đào tạo nghề Cơ sở dạy nghề bao gồm: Trung tâm dạy nghề; Trường trung cấp nghề; Trường cao đăng nghề; Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), Trường trung cap chuyên nghiệp, trường Cao đẳng, Trường đại học, Cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề (Luật dạy nghề năm 2006).
- Cơ sở dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ sơ cấp được thực hiện từ ba tháng đến dưới một năm đối với người có trình độ học vấn, sức khoẻ phù hợp với nghề cần học. Nội dung dạy nghề trình độ sơ cấp phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề 5 trình độ sơ cấp, tập trung vào năng lực thực hành nghề, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của khoa học, công nghệ. Phương pháp dạy nghề trình độ sơ cấp phải chú trọng rèn luyện kỹ năng thực hành nghề và phát huy tính tích cực, tự giác của người học nghề.
Chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-dun, mỗi nghề. Cơ sở dạy nghề trình độ sơ cấp là các Trung tâm dạy nghề; Trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp; Doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác (sau đây gọi chung là doanh nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục khác có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp.Người học nghề học hết chư- ơng trình sơ cấp nghề có đủ điều kiện thì được dự kiểm tra, nếu đạt yêu cầu thì được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề theo quy định. - Cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ trung cấp được thực hiện từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo.
Về nội dung dạy nghề trình độ trung cấp phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp, tập trung vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo, bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, phủ hợp với thực tiễn và sự phát triên của khoa học, công nghệ. Phương pháp dạy nghề trình độ trung cấp phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, 6 tự giác, khả năng làm việc độc lập. Chương trình dạy nghề trình độ trung cấp thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp: quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, môn học, mỗi nghề. Cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp là các Trường trung cấp nghề.
Trường cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp. Trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đăng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ trung cấp. Học sinh học hết chương trình trung cấp nghề có đủ điều kiện thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề theo quy định - Cơ sở dạy nghề trình độ cao đăng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ cao đẳng được thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo nghề đào tạo.
Về nội dung dạy nghề trình độ cao đẳng phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng, tập trung vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao kiến thức chuyên môn theo yêu cầu đào tạo của nghề bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng sự phát triển của khoa học, công nghệ. Phương pháp dạy nghề trình độ cao đăng phải kết hợp rèn luyện năng lực thực hành nghề với trang bị kiến thức chuyên môn và phát huy tính tích cực, tự giác, năng động, khả năng tổ chức làm việc theo nhóm. Chương trình dạy nghề trình độ cao dang thể hiện mục tiêu dạy nghề trình độ cao đăng; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cau trúc nội dung, phương pháp và hình thức dạy nghề; 7 cách thức đánh giá kết quả học tập đối với mỗi mô-đun, môn học, mỗi nghề. Cơ sở dạy nghề cao đăng là các Trường cao đăng nghề.
Trường cao đăng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ cao đăng. Sinh viên học hết chư- ơng trình cao đẳng nghề có đủ điều kiện thì được dự thi, nếu đạt yêu cầu thì được cấp bằng tốt nghiệp cao đăng nghề theo quy định - Cơ sở dạy nghề theo modul; kèm cặp; lưu động nhằm trang bị cho người học nghề về một vấn đề cụ thẻ, trong thời gian ngắn, học lý thuyết tương đối có hệ thống Và trực tiếp tham gia lao động sản xuất tạo điều kiện cho họ nắm vững tay nghề.3 Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động. Như vậy để xác định nguồn nhân lực, chúng ta phải xác định các thông tin cả về định lượng và định tính dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Cụ thể chúng ta thường xuyên phải xác định quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo cá đặc điêm khác nhau như giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghẻ; theo các đặc điểm về kinh nghiệm, kỹ năng và ngoài ra còn có những mô tả về sự tận tâm, tiềm năng của con người lao động trong tổ chức.4 Phát triển nguồn nhân lực Có rất nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực: UNESCO sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và cho rằng phát triển nguồn nhân lực làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mỗi quan hệ với sự phát triển của đất nước.
Tổ chức lao động thế giới lại cho rằng phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực § đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Liên hiệp quốc nghiên về sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng, bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đây phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo quan điểm của một số tác giả ở Việt Nam Chức năng đào tạo được gọi một cách phố biến là phát triển nguồn nhân lực, phối hợp các hoạt động đảo tạo và phát triển trong tô chức. Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tống thể các hoạt động học tập có tô chức được tiền hành trong những khoản thời gian nhất định đề tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người lao động được thực hiện bởi doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực như vậy là bao gồm tắt cả các hoạt động học tập, thậm chí chỉ vài ngày, vài giờ. (Nguồn: Nguyễn Quốc Tuần — Đoàn Gia Dũng (2006), Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê) Hay: Phát triển nhân lực là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bỗ sung thêm những kiến thưc, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc đẻ đi tìm một việc làm mới. Với nghĩa rộng hơn gồm 3 mặt: Phát triển sinh thể, phát triển nhân cách, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển. Một cách tổng quát, phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng giá trị vật chất, giá tri tinh than, dao dire va gia tri thé chat, .cho con người.
Phát triển giáo viên là phát triển nhân lực trong một môi trường đặc thù.