Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CHO GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vào năm 2008, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã đề ra khung năng lực ứng dụng CNTT và truyển thông vào dạy học dành cho giáo viên (UNESCO ICT Competency Framework for Teachers) [34]. Khung năng lực này đã là cơ sở đề nhiều quốc gia xây dựng chương trình, tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực ứng dụng ICT vào dạy học cho giáo viên.
Barakhsanova và cộng sự (2016) với nghiên cứu “Adaptive Education Technologies to Train Russian Teachers to Use E-learning”. Nghiên cứu đã chỉ ra tính phù hợp để phát triển công nghệ giảng dạy thích ứng (dựa trên sự tương tác thích ứng của các chủ thể trong quá trình giáo dục) và có thể áp dụng vào đào tạo giáo viên tích cực và chuyên sâu để làm việc trong các điều kiện ứng dụng E-learning [28]. Bộ Giáo dục và Đào tạo Australia (2016) “Teacher ICT Skills: Evaluation of the Information and Communication Technology Knowledge and Skill Levels of Western Australian Government School Teachers”. Theo đó, Bộ đã triển khai một số sáng kiến nhằm tăng khả năng tiếp cận CNTT và truyền thông của các trường công lập.
Mục đích cơ bản của việc tích hợp và cải thiện việc sử dụng CNTT của sinh viên là giả định rằng bản thân giáo viên phải có năng lực và tự tin trong việc ứng dụng CNTT trong dạy và học [0]. Do vậy cần phải có một chiến lược hỗ trợ phù hợp, đánh giá được các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trợ sự phát triển năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên. Nghiên cứu đã đánh giá mức độ và bản chất của kiến thức và kỹ năng ứng dụng CNTT của giáo viên tại các trường công lập ở Australia để thích lập chương trình bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng CNTT trong lớp học. Grinshkun và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu về “Using Methods and Means of the Augmented Reality Technology When Training Future Teachers of the Digital School”.
Mục đích của nghiên cứu là chứng minh về mặt lý thuyết và xác minh bằng thực nghiệm sự cần thiết phải áp dụng các phương pháp và phương tiện công nghệ thông tin tăng cường khi đào tạo giáo viên tương lai của trường kỹ thuật số. Nhóm tác giả đã làm rõ tiềm năng của công nghệ thông tin tăng cường, những thuận lợi và khó khăn về mặt phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên, từ đó giải quyết 5 các nhiệm vụ định hướng bồi dưỡng năng lực chuyên nghiệp cho đội ngũ giáo viên trong trường học thông minh [26]. Các nghiên cứu trên đã chỉ ra tính phù hợp để phát triển công nghệ giảng dạy thích ứng và tầm quan trọng phải có chiến lược hỗ trợ phát triển năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên. Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đã làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong phát triển năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên trong trường học thông minh.
Tại Việt Nam Tại Việt Nam, xác định rõ vai trò quan trọng của ICT đối với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc thúc đẩy ứng dụng ICT, được thể hiện thông qua việc đề ra các quyết sách, chủ trương và cụ thể bằng việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, chiến lược, đề án phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội” [0]. Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã xem giải pháp “Đổi mới quản lý giáo dục” là giải pháp đột phá, trong đó nhấn mạnh đến việc “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục ở các cấp” [8].
Ngày 25/01/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016- 2020, định hướng đến năm 2025”, trong đó đề ra chỉ tiêu đến năm 2020 có “70% lớp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được thực hiện qua mạng theo phương thức học tập kết hợp (blended learning)”. * Các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên Ở Việt Nam, chương trình ETEP đã phối hợp với Cục Công nghệ thông tin và Cục Nhà giáo và Cán bộ Quản lý Giáo dục xây dựng phần mềm bồi dưỡng đội ngũ GV (LMS-TEMIS) để hỗ trợ công tác bồi dưỡng GV, đặc biệt là công tác bồi dưỡng GV phục vụ thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Toàn bộ các Chương trình bồi dưỡng thường xuyên mà ETEP phát triển cũng như nguồn học liệu mở sẽ được kết nối với Hệ thống quản lý học tập (LMS), hệ thống thông tin quản lý bồi dưỡng giáo viên (TEMIS). Đặc biệt, các thầy cô giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phổ thông được hỗ trợ liên tục, thường xuyên, tại chỗ bởi mạng lưới hỗ trợ gồm đội ngũ chuyên gia sư phạm và đội ngũ cốt cán.
Mai Văn Trinh, Đặng Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Trí Anh (2017) đã nghiên cứu về “Ứng dụng CNTT và truyền thông trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở trường phổ 6 thông - kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam”. Theo các tác giả ICT được xem là công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho quá trình đổi mới dạy và học, đổi mới quản lí giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Tuy nhiên, thực tiễn việc triển khai ứng dụng ICT trong giáo dục, đặc biệt là trong hoạt động BDGV hiện nay vẫn chưa đồng bộ, xuyên suốt, chưa theo kịp yêu cầu và sự đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn. Nghiên cứu đã chỉ ra kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong bồi dưỡng giáo viên tại Singapore, Hàn Quốc, Namibia, Uganda, Nauy.
qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bồi dưỡng giáo viên với sự hỗ trợ của ICT tại Việt Nam [24]. * Các nghiên cứu về quản lý ứng dụng CNTT Tác giả Vũ Thị Thúy Nga (2011) trong nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cho giáo viên trung học cơ sở Hải Phòng tại Trung tâm tin học” đã nghiên cứu về thực trạng ứng dụng CNTT trong giảng dạy của giáo viên, thực trạng hoạt động bồi dưỡng ứng dụng CNTT trong giảng dạy cho giáo viên trung học cơ sở Hải Phòng tại Trung tâm tin học để đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại cần phải khắc phục. Tác giả luận văn đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hoạt động bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cho giáo viên trung học cơ sở Hải Phòng tại Trung tâm tin học. Tác giả Thái Hoài Minh, Trịnh Văn Biểu (2016) đã “Xây dựng khung năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy cho sinh viên sư phạm hoá học”.
Khung năng lực giúp GV xác định được những mục tiêu đặt ra cho sinh viên trong học phần, từ đó xây dựng nội dung dạy học và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp hơn. Đồng thời việc tạo cơ hội cho sinh viên tham gia và đánh giá quá trình giúp sinh viên nhận biết được những gì nên làm và cần phải hoàn thiện để đạt kết quả tốt nhất. Theo Nguyễn Thị Thu Hường (2022) trong công trình về “Quản lý ứng dụng Công nghệ Thông tin trong giáo dục trẻ tại ở trường mầm non B xã Đông Mỹ”, đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ tại trường mầm non B xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội, từ đó tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục trẻ tại trường mầm non B xã Đông Mỹ, Thanh Trì, Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ của nhà trường [16]. Như vậy, đã có công trình nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên tại các trường phổ thông cũng như xây dựng khung năng lực ứng dụng 7 CNTT và truyền thông trong hoạt động giảng dạy, giáo dục.
Tuy nhiên, vấn đề tổ chức bồi dưỡng năng lực ứng dụng CNTT trong quản lý cho giáo viên tại các trường THCS tại một địa phương vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Trong quá trình lao động tập thể không thể thiếu được kế hoạch, sự phân công và điều hành chung, sự hợp tác và quản lý lao động. Hiện nay đã có nhiều quan điểm về quản lý như: - Theo F.Taylor (1856-1915): Quản lý là biết được chính xác điều muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất.
[17] - Robert Albanese: "Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức".[17] - Theo Harolk Kootz & Cyryl O'Donell: "Quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường nơi mà cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm". [17] - Robert Kreitner cho rằng: "Quản lý là tiến trình làm việc với và thông qua người khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi. Trong tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn". Hiện nay, quản lý được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [16].
Quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.