Phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phục lục, cấu trúc luận văn gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 2: Thực trạng quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trƣờng tiểu học thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Chƣơng 3: Biện pháp quản lý bồi dƣỡng năng lực dạy học cho giáo viên các trƣờng tiểu học thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái đáp ứng yêu cầu chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Để có nền giáo dục vững mạnh, đào tạo, bồi dƣỡng GV ở mỗi quốc gia trở thành một vấn đề cực kỳ quan trọng. Sứ mệnh của đội ngũ GV đặc biệt cao cả.
Họ là bộ phận lao động tinh hoa, trực tiếp thúc đẩy sự phát triển xã hội theo hƣớng bền vững. Trong khoảng thời gian trƣớc và sau khi nƣớc ta tiến hành đổi mới, thế giới chứng kiến những biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tƣ nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vƣợt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển. Mặt khác, những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trƣờng, mất cân bằng sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu.
Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới CT GDPT nói riêng, giáo dục đào tạo nói chung để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tƣơng lai nền tảng văn hoá vững chắc và năng lực thích ứng cao trƣớc mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu. Nói về tầm quan trọng của đội ngũ GV trong bối cảnh giáo dục ở thế kỉ XXI, tiến sĩ Raja Joy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng ở Ấn Độ, chuyên gia giáo dục nhiều năm của UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng khẳng định: ''GV giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục, đặc biệt trong việc định 6 hƣớng lại giáo dục. Những công nghệ thành đạt, nói chính xác là những công nghệ thông tin, sử dụng trình độ nghề nghiệp và phong cách của những GV giỏi nhất" [dẫn theo 19].
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng GV là vấn đề cốt yếu trong phát triển giáo dục. Phƣơng châm hành động của các cấp quản lý giáo dục là: Tạo điều kiện thuận lợi để mọi ngƣời có cơ hội học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời nhằm kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phƣơng pháp hoạt động phù hợp với yêu cầu đổi mới liên tục của giáo dục nói riêng, của xã hội nói chung. Trong những năm gần đây, trên thế giới có không ít công trình nghiên cứu về xây dựng và phát triển đội ngũ GV. Các công trình nghiên cứu của Fumiko Shinohara (2004 “ICTs in Teachers Training, UNESCO” - ICTs trong đào tạo GV); Harry Kwa (2004 “Information Technology Training Program for Student and Teachers” - Chương trình đào tạo công nghệ thông tin cho sinh viên và GV).
Việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới dẫn đến những đòi hỏi mới đối với đội ngũ GV về phƣơng pháp dạy học. Việc đào tạo, cập nhật kiến thức mới, bồi dƣỡng GV trở nên đa dạng, phong phú kèm theo là các chính sách giảm giờ trên lớp, dạy học kiểu gợi mở, khơi gợi trí tò mò và năng lực khám phá của HS. Sau hội thảo Cambridge về nhà giáo của thế kỷ 21, ngƣời ta đã đặt ra 5 yêu cầu cốt lõi đối với GV là: Kiến thức, kỹ năng sƣ phạm, phẩm chất, thái độ và niềm tin. Ở một số quốc gia nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và các nƣớc khác còn nhấn mạnh GV vừa là nhà chuyên môn, vừa là ngƣời lãnh đạo (lãnh đạo hoạt động lớp học và lãnh đạo chuyên môn).
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu của OECD (Tổ chức Hợp tác phát triển châu Âu) cũng đã đề cập đến chất lƣợng GV theo 5 tiêu chuẩn chính: 1. Kiến thức phong phú về nội dung chƣơng trình và nội dung bộ môn đƣợc giao giảng dạy; 2. Kỹ năng sƣ phạm trong việc tạo “kho kiến thức” về phƣơng pháp dạy học, năng lực sử dụng những phƣơng pháp đó; 3. Có tƣ duy phản biện trƣớc mỗi 7 vấn đề và có năng lực tự phê bình - năng lực đặc trƣng của nghề dạy học; 4.
Biết cảm thông, cam kết tôn trọng phẩm giá của ngƣời khác; 5. Có năng lực quản lý, bao gồm cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học. Theo Liên minh Châu Âu, việc bồi dƣỡng phát triển năng lực cho các lực lƣợng giáo dục là vấn đề trọng tâm để nâng cao chất lƣợng của các nhà trƣờng. Chất lƣợng giáo dục cao chỉ có thể đƣợc đảm bảo bằng việc đào tạo, bồi dƣỡng một cách liên tục, bằng chất lƣợng rèn tay nghề cho GV và các nhân viên phục vụ hoạt động giáo dục, dạy học trong nhà trƣờng.
Tài liệu của EU đƣa ra 8 năng lực cốt lõi: (i) Giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ; (ii) Giao tiếp bằng tiếng nƣớc ngoài; (iii) Năng lực toán học và năng lực trong khoa học tự nhiên và công nghệ; (iv) Năng lực kĩ thuật số; (v) Năng lực học tập (học cách học); (vi) Năng lực xã hội và công dân; (vii) Sáng kiến và tinh thần kinh doanh; (viii) Ý thức văn hoá và khả năng biểu đạt văn hoá [dẫn theo 36]. EU đƣa ra những năng lực này để xác định các lĩnh vực giáo dục và căn cứ đánh giá kết quả giáo dục. Đây là những năng lực chuyên môn, mỗi năng lực gắn với một số môn học và HĐGD nhất định [dẫn theo 36]. Tài liệu của WEF đƣa ra 3 nhóm kĩ năng (Skills) của thế kỉ 21 là: (i) Học vấn nền tảng (Foundatinal Literacies), bao gồm: học vấn nền tảng về đọc viết, học vấn nền tảng về tính toán, học vấn nền tảng về khoa học, học vấn nền tảng về công nghệ thông tin, học vấn nền tảng về tài chính, văn hoá nền tảng về công dân và xã hội; (ii) Năng lực (Competencies), bao gồm: tƣ duy phản biện/giải quyết vấn đề, sáng tạo, giao tiếp, hợp tác; (iii) Phẩm chất (Character Qualities), bao gồm: ham tìm hiểu, sáng kiến, kiên trì/dũng cảm, ứng dụng, lãnh đạo, hiểu biết về xã hội và văn hoá [dẫn theo 36].
Để phát triển năng lực của ngƣời học, CT GDPT của các nƣớc thƣờng chú trọng những vấn đề sau: (i) Dạy học phân hoá để phát huy tốt nhất tiềm năng, sở trƣờng, phù hợp với sở thích, hứng thú của mỗi học sinh; (ii) Dạy học thông qua các chủ đề, học phần, môn học tích hợp để giúp ngƣời học rút ngắn quá trình huy động tổng hợp các nguồn lực thành năng lực; (iii) Dạy học thông qua 8 hoạt động tự học, thực hành, vận dụng của ngƣời học để hình thành, phát triển vững chắc năng lực của ngƣời học qua hoạt động [dẫn theo 36]. Một số quan điểm cho rằng, về hình thức bồi dƣỡng có bồi dƣỡng tập trung trong một số ngày kết hợp lí thuyết với thực hành nhƣng học viên tham gia bồi dƣỡng chủ yếu thích thực hành hơn; bồi dƣỡng dƣới dạng xêmina hay các hội thảo huấn luyện thƣờng tổ chức vào mùa hè. Nếu bồi dƣỡng theo hình thức từ xa thì tùy thuộc vào thời gian học viên tham gia bồi dƣỡng mà có thể sắp xếp đƣợc. Bên cạnh đó, các hình thức trợ giúp tƣ vấn cho học viên tham gia bồi dƣỡng cũng đƣợc xem là một hình thức bồi dƣỡng.
Đồng thời, hình thức này đƣợc coi là tiết kiệm chi phí cho chủ thể tổ chức bồi dƣỡng, nhất là các chi phí cho việc ăn ở, đi lại,… trong khi học viên tham gia bồi dƣỡng lại đƣợc hƣởng chƣơng trình bồi dƣỡng tốt nhất do các chuyên gia thiết kế. Nhƣ vậy, trên thế giới đã có các nghiên cứu về bồi dƣỡng năng lực cho GV. Các nghiên cứu này đã đề cập đến nội dung, phƣơng pháp, hình thức bồi dƣỡng. Tuy nhiên, bồi dƣỡng các năng lực dạy học cho GV đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và quản lý hoạt động này vẫn là một khoảng trống cần sự quan tâm của các nhà khoa học.
Những nghiên cứu ở trong nước Trong bối cảnh đổi mới giáo dục và thực hiện chƣơng trình GDPT 2018, ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về bồi dƣỡng GV nói chung, bồi dƣỡng năng lực dạy học cho GV nói riêng. Trong Kỉ yếu Hội thảo khoa học: "Phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐT” của Đại học Huế, tác giả Nguyễn Thị Kim Dung có bài viết: Phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ GV trẻ theo hình thức học tập tại chỗ thông qua mạng Internet. Trên cơ sở đánh giá sự cần thiết phải phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ GV trẻ theo hình thức học tập tại chỗ thông qua mạng Internet, tác giả đã chỉ ra mục đích và các biện pháp thực hiện phát triển năng lực nghề nghiệp cho GV trẻ tại chỗ thông qua mạng Internet và các điều kiện thực hiện [15, tr. 9 Năm 2014, Bộ GD-ĐT đã ban hành Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hƣớng phát triển năng lực HS.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thơm đã nghiên cứu kinh nghiệm về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học cho GV tại một số quốc gia trên thế giới và bài học áp dụng cho Việt Nam, trong đó tác giả đã chỉ ra xu hƣớng quản lí bồi dƣỡng năng lực dạy học cho GV của một số nƣớc, từ đó nêu ra một số bài học kinh nghiệm áp dụng trong hoạt động bồi dƣỡng GV ở Việt Nam [28, tr 61-64]. Tác giả Hồ Viết Vƣơng (2005) trên cơ sở nghiên cứu về yêu cầu của chuẩn hóa chƣơng trình giáo dục đối với việc bồi dƣỡng nâng cao năng lực cho GV, CBQL cơ sở GDPT đã đề xuất các giải pháp bồi dƣỡng GV, CBQL giáo dục [32].