phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động bồi dƣỡng năng lực tƣ vấn tâm lí học đƣờng cho giáo viên ở trƣờng THCS. Thực trạng quản lí hoạt động bồi dƣỡng năng lực tƣ vấn tâm lí học đƣờng cho giáo viên ở các trƣờng THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Biện pháp quản lí hoạt động bồi dƣỡng năng lực tƣ vấn tâm lí học đƣờng cho giáo viên ở các trƣờng THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC TƢ VẤN TÂM LÍ HỌC ĐƢỜNG CHO GIÁO VIÊN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Theo các tài liệu về lịch sử phát triển của ngành tham vấn học đƣờng nói chung, tham vấn (tƣ vấn) tâm lí học đƣờng nói riêng thì: Tham vấn (tƣ vấn) tâm lý học đƣờng (School Counseling) hay còn gọi là tham vấn học đƣờng là một nhánh của ngành tham vấn tâm lý đƣợc xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ. Davis có thể đƣợc xem là một trong những ngƣời đầu tiên trong lĩnh vực này khi giới thiệu một chƣơng trình “Những hƣớng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh các trƣờng học công.
Frank Parsons, đƣợc xem nhƣ cha đẻ của nghề Hƣớng dẫn (còn gọi Khải đạo), đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề ” (Choosing a Vocation) vào năm 1909 qua đó trình bày phƣơng pháp kết nối những đặc điểm tính cách của một cá nhân với một nghề nghiệp. Jesse Davis, Frank Parsons, Eli Weaver và nhiều ngƣời khác nữa đã tạo thành một trào lƣu thúc đẩy cho sự phát triển của ngành tham vấn học đƣờng [34]. Năm 1940, trong bài phát biểu khi gia nhập Ban Tâm lý học của Đại học bang Ohio, Carl Rogert khẳng định trong hoạt động tƣ vấn tâm lý, một trong những liệu pháp tâm lý chủ yếu để nhà tƣ vấn có thể tiếp cận và hỗ trợ thân chủ vƣợt qua những thách thức của mình là liệu pháp Thân chủ Trọng tâm. Quan điểm liệu pháp, hƣớng tiếp cận tâm lí của Carl Rogert có vai trò rất quan trọng, ảnh hƣởng lớn đến quá trình hình thành ngành tƣ vấn tâm lí nói chung và hoạt động tƣ vấn tâm lí học đƣờng nói riêng sau này [7].
Năm 1953 hiệp hội các nhà tƣ vấn tâm lí học đƣờng Hoa Kì (ASCA) tham gia vào APGA - tiền thân của hiệp hội tƣ vấn tâm lí Hoa Kì hiện nay đƣợc thành 7 lập. Năm 1962 cuốn sách “The Counselor in a Changing World” của tác giả Wrenn đã định chế hóa các mục tiêu của tƣ vấn học đƣờng. Năm 1964 ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tƣ vấn học đƣờng [34]. Cuối những năm 1990, Pat Martin - một giáo viên Toán học kiêm cố vấn học đƣờng tại Mĩ cùng với tổ chức giáo dục The Trust thiết lập một dự án về tƣ vấn học đƣờng.
Dự án của Martin tập trung vào tƣ vấn cho học sinh, cha mẹ, ngƣời giám hộ. Dự án tập trung chủ yếu vào việc nhằm rút ngắn những khoảng cách, cản trở để đi đến thành công trong cuộc sống của trẻ em và thanh thiếu niên. Kể cả những trẻ em da màu, trẻ song ngữ, trẻ bị khuyết tật. Năm 1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chƣơng trình tham vấn học đƣờng (National Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể từ đó, ngành tham vấn học đƣờng đƣợc xem là đã hoàn thiện.
Hiện nay, hiệp hội các nhà tham vấn học đƣờng Hoa Kỳ (ASCA) đƣợc xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chƣơng trình tham vấn tâm lý học đƣờng của hầu hết các nƣớc trên thế giới. ASCA hiện tại có hơn 23.000 hội viên trên toàn thế giới và là một phân hội của ACA với hơn 60.000 hội viên trên toàn thế giới. Các dịch vụ tƣ vấn, hỗ trợ tâm lý học đƣờng đã trở nên phổ biến và không thể thiếu đƣợc trong các trƣờng học, các cơ sở đào tạo ở Anh, Pháp, Nga, Đức… và nhiều quốc gia khác trên thế giới [34]. Nhƣ vậy, trên thế giới, cùng với quá trình phát triển của hoạt động tƣ vấn nói chung tƣ vấn tâm lý học đƣờng nói riêng, các nghiên cứu trên đã góp phần giúp các nhà quản lý ở các trƣờng đại học, phổ thông có cơ sở để tìm ra các biện pháp tổ chức hoạt động tƣ vấn tâm lý học đƣờng một cách bài bản, khoa học và hiệu quả nhất dành cho học sinh, sinh viên.
Bên cạnh đó còn có rất nhiều tài liệu, tác giả nghiên cứu về các kĩ năng tƣ vấn, chăm sóc tâm lí cho ngƣời học, vai trò tƣ vấn tâm lí học đƣờng, các mô hình tƣ vấn tâm lí học đƣờng. Các công trình nghiên cứu trên đều nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động TVTLHĐ cũng nhƣ các vấn đề về việc quản lý hoạt động này ở trƣờng học, ở 8 các cơ sở đào tạo. Điều cần thiết là phải có ban tƣ vấn, chƣơng trình tƣ vấn cụ thể, đặc biệt nhà quản lí phải quan tâm đến vai trò của nhà hỗ trợ tƣ vấn tâm lí học đƣờng, những ngƣời không làm nhiệm vụ dạy học. Ở trong nước Cũng nhƣ trên thế giới, ở Việt Nam, trong những năm gần đây, vấn đề tham vấn học đƣờng tại Việt Nam cũng đƣợc các nhà tâm lý - giáo dục quan tâm.
Nghiên cứu về vấn đề này, trƣớc hết phải kể đến cuốn “Tƣ vấn tâm lý học đƣờng” năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị Oanh. Trong công trình này, tác giả đã chỉ rõ nguyên tắc, quy trình và kỹ năng, kĩ thuật cơ bản để thực hiện công tác tƣ vấn tâm lý trong các nhà trƣờng. Với tính định hƣớng thiết thực, cuốn sách đƣợc đông đảo học sinh, phụ huynh và các nhà trƣờng đón nhận [28]. Một trong những cuốn sách đƣợc coi là tƣ liệu tham khảo quý báu khác nữa dành cho các nhà giáo dục, cho học sinh đó là cuốn “Tƣ vấn tâm lý tuổi vị thành niên” (2013) của tác giả Nguyễn Công Khanh.
Những đặc trƣng tâm lý nổi bật của trẻ lứa tuổi vị thành niên, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử với mọi ngƣời ( bạn bè, thầy cô, cha mẹ, những ngƣời xung quanh.); kĩ năng tự biết mình, cách phòng tránh nguy cơ xấu xảy đến với bản thân.đã đƣợc tác giả đề cập một cách cụ thể, tỉ mỉ trong cuốn sách [21]. Năm 2013, tác giả Trƣơng Thị Hằng đã nghiên cứu: “Biện pháp quản lý hoạt động tư vấn tâm lý học đường cho học sinh THPT Đinh Tiên Hoàng, quận Ba Đình, Hà Nội”. Công trình nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại trong quản lý công tác tƣ vấn tâm lý học đƣờng nhƣ: cán bộ quản lý, GV làm công tác tƣ vấn tâm lý học đƣờng còn thiếu về kỹ năng tƣ vấn; việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo triển khai, kiểm tra đánh giá hoạt động tƣ vấn tâm lý học đƣờng còn tồn tại nhiều hạn chế. Có 6 nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hƣởng đến thực trạng trên.
Đồng thời tác giả cũng đề xuất 4 biện pháp nhằm quản lý hoạt động tƣ vấn tâm lý học đƣờng đạt hiệu quả hơn [11]. Đúc kết quá trình nghiên cứu về vấn đề tham vấn tâm lý từ những năm 2002-2006, đến năm 2016, tác giả Trần Minh Đức cho xuất bản cuốn “Giáo 9 trình tham vấn tâm lý”. Trong 8 chƣơng của giáo trình, bên cạnh lịch sử ngành tham vấn tâm lý, tác giả đã nghiên cứu khá công phu về các nguyên tắc, quy trình, kỹ năng tham vấn, tƣ vấn tâm lý học đƣờng. Đồng thời, xây dựng hệ thống bài tập thực hành rèn kỹ năng tham vấn, tâm lý học đƣờng rất thiết thực dành cho các nhà giáo dục [10].
Cũng có thể kể đến các bài viết khai thác hoạt động tƣ vấn học đƣờng dƣới nhiều góc độ khác nhau. Tác giả Hà Nhật Thăng đã đề cập đến góc độ tƣ vấn của GV cho hoạt động tự quản của tập thể học sinh trong tài liệu “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” [35]. Còn trong cuốn“Tuyển tập các tình huống sư phạm”, tác giả Nguyễn Văn Hộ đã khai thác vấn đề theo hƣớng đƣa ra kĩ năng xử lí tình huống sƣ phạm thiết thực cho sinh viên [15]. Hay bài viết của tác giả Lê Thục Anh Khoa, Khoa Giáo dục, Trƣờng Đại học Vinh cũng đã đề cập đến: “Tâm lý học đường và sự cần thiết trợ giúp tâm lý trong nhà trường”(07/12/2017).
Năm 2018, tác giả Đặng Thị Bích Nga nghiên cứu: “Thực trạng quản lí hoạt động tư vấn học đường ở các trường phổ thông quận 11, thành phố Hồ Chí Minh”. Kết quả khảo sát cho thấy, bên cạnh những nội dung quản lí đã thực hiện tốt, việc quản lí quản lý hoạt động tƣ vấn học đƣờng (HĐTVHĐ) của hiệu trƣởng các trƣờng THPT quận 11, TP. Hồ Chí Minh vẫn còn tồn tại những hạn chế nhƣ: việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện HĐTVHĐ còn mang tính hình thức, chƣa đi vào chiều sâu, chƣa chú trọng đến chuyên ngành của ngƣời đƣợc tuyển dụng làm công tác TVHĐ, chế độ chính sách cho tƣ vấn viên và những ngƣời làm công tác tƣ vấn chƣa phù hợp, cơ sở vật chất của các phòng tƣ vấn vẫn chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức, chƣa thƣờng xuyên chủ động tìm hiểu vấn đề của HS khi xây dựng nội dung tham vấn. Những hạn chế trong công tác quản lí HĐTVHĐ chủ yếu là do nhận thức của CBQL các cấp, các ban ngành về HĐTVHĐ vẫn chƣa đầy đủ, chƣa đồng bộ, thiếu sự thống nhất dẫn đến việc quản lí còn mang tính chủ quan, thụ động.
Những hạn chế này là cơ sở để hiệu 10 trƣởng các trƣờng này đề xuất những biện pháp quản lí hiệu quả [26]. Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động tƣ vấn tâm lý trong trƣờng học, Bộ GD&ĐT đã có nhiều văn bản chỉ đạo liên quan đến nội dung này. Năm 2017, Bộ GD&ĐT đã ban hành Thông tƣ 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 về việc "Hƣớng dẫn thực hiện công tác tƣ vấn tâm lý cho HS trong trƣờng phổ thông" có hiệu lực từ ngày 2/2/2018. Có thể thấy, thông tƣ trên của Bộ GD&ĐT chính là cơ sở pháp lý cần thiết để các trƣờng phổ thông quan tâm triển khai hoạt động bồi dƣỡng năng lực TVTLHĐ cho giáo viên [Error! eference source not found.
Trên thực tế, ở Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về tƣ vấn tâm lý học đƣờng, về quản lí hoạt động bồi dƣỡng cho GV trong các trƣờng phổ thông.