phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông chuyên. Chƣơng 2: Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên ở trường trung học phổ thông chuyên tỉnh Vĩnh Phúc Chƣơng 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên ở trường trung học phổ thông chuyên tỉnh Vĩnh Phúc. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Đội ngũ, đội ngũ giáo viên 1. Đội ngũ Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lực lượng” [28, tr. Khái niệm đội ngũ được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ví dụ trong ngành y tế là đội ngũ y bác sỹ hoặc đội ngũ công nhân trong nhà máy xí nghiệp hoặc đội ngũ nhà giáo trong ngành giáo dục. Đội ngũ giáo viên Theo điều 70 Luật Giáo dục năm 2005 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, cho rằng: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên” [5, tr. Do vậy giáo viên được hiểu là “nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Giáo viên trong các cơ sở giáo dục có nhiệm vụ, quyền lợi, vai trò và trách nhiệm được quy định tại Luật Giáo dục, điệu lệ và quy chế trường học”. Từ phân tích trên ta có thể quan niệm “Đội ngũ giáo viên là tập hợp những nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp có chung nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật giáo dục, Điều lệ và Quy chế trường học”.
Phát triển, phát triển đội ngũ giáo viên, biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên 1. Phát triển Trong Triết học, theo phép biện chứng duy vật. Phát triển là khái niệm dùng để “Khái quát quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn thiện đến hoàn thiện hơn”. Trong quá trình phát triển “sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn; làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn”.
Do đó phát triển được hiểu là “sự thay đổi, chuyển biến tạo ra cái mới theo hướng tích cực, tốt hơn” [30, tr. Phát triển đội ngũ giáo viên: Có nghĩa là làm cho ĐNGV có sự thay đổi số lượng, cơ cấu và chất lượng ĐNGV; thực chất là có sự thay đổi ĐNGV về cả “lượng” và “chất” đáp ứng nhu cầu vừa tăng qui mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong giai đoạn mới. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên Biện pháp: Từ điển tiếng Việt cho thấy, biện pháp là “cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [28, tr. Trong giáo dục người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp.
Trong tình huống sư phạm cụ thể phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa lẫn nhau. Các biện pháp được xây dựng trên cơ sở tính kế thừa, tính phù hợp, tính khả thi, tính thực tiễn và tính hiệu quả. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên: Phát triển đội ngũ giáo viên được thực hiện thông qua các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên, cho nên biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giáo viên được hiểu là “những cách thức cụ thể của các nhà quản lý giáo dục tác động vào đội ngũ giáo viên để tạo ra sự thay đổi đội ngũ giáo viên theo hướng đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng” theo yêu cầu đổi mới giáo dục. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Quản lý Quản lý là một hoạt động có từ rất lâu, nhà Sử học Daniel A.Wren đã từng nhận xét: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”, có nghĩa là hoạt động quản lý xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện loài người. Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, từ nền văn minh mông muội, đến nền văn minh lúa nước, nền văn minh công nghiệp và hiện nay xã hội loài 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người đang bước nền văn minh tri thức thì hoạt động quản lý càng trở nên phổ biến và tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong các hoạt động của đời sống con người. Nói đến hoạt động quản lý người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K. Vậy quản lý là gì? Đã có rất nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm này.
Theo một số quan niệm của tác giả nước ngoài: F.Taylor (1856-1915), được coi là cha đẻ của Thuyết quản lý khoa học đã định nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr.Fayol (1841-1925), tác giả của Thuyết quản lý tổng quát, định nghĩa như sau: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [16, tr.Follett (1868-1333), đại diện của Thuyết quan hệ con người cho rằng: “Quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại. Bởi một vấn đề đã được giải quyết, thì trong quá trình giải quyết nó, người quản lý sẽ phải đương đầu với những vấn đề mới nảy sinh” [16, tr. Theo quan niệm của các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc khi nghiên cứu về Cơ sở khoa học quản lý cho rằng: Định nghĩa hoạt động “quản lý” được coi là kinh điển nhất được hiểu là “quá trình tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [16, tr. Hiện nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [16, tr.
Tóm lại, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song khái niệm quản lý đã được lột tả qua một số nội dung sau đây: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quản lý là một loại hoạt động xã hội, luôn gắn liền với một nhóm người hay một tổ chức xã hội nào đó. Bản chất của hoạt động quản lý, là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các chức năng quản lý là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra giúp cho hệ thống ổn định, thích ứng, tăng trưởng và phát triển, được minh họa ở sơ đồ 1.1: Mối quan hệ các chức năng quản lý Kế hoạch Kiểm tra, Thông Tổ chức đánh giá tin Chỉ đạo Trong đó các chức năng của quản lý có liên quan mật thiết với nhau, chúng luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý. Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt ở tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi thực hiện chức năng quản lý. Quản lý vừa được xem như là một “khoa học”, sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau, ví dụ như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học, xã hội học.
Đồng thời quản lý được xem như là một “nghệ thuật”, do đó đòi hỏi các nhà quản lý trong quá trình quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt, tổ chức, điều khiển, hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng hướng tới mục tiêu xác định. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quản lý giáo dục Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí trong nghiên cứu về Lý luận quản lý giáo dục quan niệm: “Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, như mọi hoạt động khác giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức mới hình thành, bản thân sự giáo dục được tổ chức và có mục đích đã là một thực tiễn quản lý giáo dục sống động” [13. Trong từ điển Tiếng Việt, từ quản lý giáo dục được hiểu như việc “thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả các cấu phần tài chính, vật chất của các hoạt động đó nữa” [28].
Về nội dung quản lý giáo dục, theo cách tiếp cận khách thể/đối tượng quản lý giáo dục, thì hoạt động quản lý giáo dục hướng vào quản lý nhà trường, giáo viên, cơ sở vật chất, học sinh, tài chính và quá trình sư phạm. Quản lý giáo dục với vai trò đảm bảo cho hệ thống giáo dục của mỗi quốc gia, mỗi địa phương được vận hành tối ưu, duy trì ổn định, tăng trưởng và phát triển. Có nhiều quan điểm khác nhau trong việc QLGD, đó là: - Quan điểm hiệu quả: Theo quan điểm này QLGD phải thực hiện sao cho hiệu số giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống giáo dục phải đạt cực đại. - Quan điểm kết quả: Quan điểm này chú ý đến việc đạt mục tiêu giáo dục nhiều hơn chú ý đến hiệu quả kinh tế của nó.
- Quan điểm đáp ứng: QLGD phải hướng tới việc làm cho hệ thống giáo dục phục vụ, đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển đất nước, phát triển xã hội. - Quan điểm phù hợp: QLGD phải đạt được mục tiêu phát triển giáo dục trong điều kiện bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Vậy là, về cơ bản hoạt động quản lý giáo dục cũng giống như mọi hoạt động quản lý kinh tế-xã hội nói chung, song trong quản lý giáo dục mang những đặc điểm đặc thù.