Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên trường Đại học Chuơng 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Đại Nam Chương 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Đại học Đại Nam 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Quản lý, quản lý nhà truờng, quản lý giáo dục 1. Quản lý Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý.
Cho đến nay, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Theo nguồn Cẩm nang quản lý của tác giả Nguyễn Hoàng Phương các nhà quản lý học đã đưa ra các định nghĩa về quản lý: - F. Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm" [26;tr.
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định. Quản lý cũng là một hoạt động thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nổ lực các nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học".
- Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". - Mary Parker Pollet (1986-1993): “Quản lý là một nghệ thuật điều khiển công việc được thực hiện thông qua người khác” [26;tr.Mar: “ Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hòa những hoạt động cá nhân, sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng” [26;tr.
Cũng theo nguồn Cẩm nang quản lý của tác giả Nguyễn Hoàng Phương các nhà quản lý học Việt Nam cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý: Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người - Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nổ lực của con người nhằm đạt được những mục tiệu đặt ra. - Quản lý là vận dụng khai thác các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) kể cả nguồn lực đạt đến kết quả kỳ vọng. - Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt được mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý. - Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo kiểm tra công việc của các thành viên thuộc hệ thống đơnvị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể của chủ thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.96] Nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích dự kiến của tổ chức” [17;tr.95] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, một cách tổng quát nhất quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của nhà quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra từ trước. Quản lý có 4 chức năng cơ bản sau: - Lập kế hoạch - Tổ chức - Lãnh đạo, chỉ đạo - Kiểm tra Các chức năng này có mối liên hệ mật thiết với nhau, có thể khái quát thành sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các chức năng quản lý Lập kế hoạch (1) Tổ chức Lãnh đạo, chỉ đạo (2) (3) Kiểm tra (4) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quản lý nhà truờng Quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động giảng dạy và học tập, cơ sở vật chất và tất cả các lĩnh vực liên quan đến hoạt động QL, giảng dạy và học tập trong một trường học để tạo điều kiện cho nhà trường phát triển. Như vậy các lĩnh vực cần phải được quản lý trong nhà trường bao gồm: 1.
Quản lý giảng viên 2. Quản lý cơ sở vật chất 4. Quản lý tài chính 5. Quản lý trang thiết bị dạy học 6.
Quản lý các hoạt động xã hội của giảng viên và sinh viên. Quản lý sinh viên. Quản lý giáo dục Bàn về vai trò của quản lý Karl Marx đã viết” một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển bản thân, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Như vậy, hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tác lao động.
Quản lý là hoạt động chăm sóc, giữ gìn và sửa sang, sắp xếp để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ổn định và phát triển. Giáo dục là bộ phận của kinh tế - xã hội, hệ thống giáo dục, mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội. Do vậy, quản lý giáo dục là quản lý một loại quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hài hòa sự phân hóa xã hội để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội.
Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quản lý giáo dục đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau: - Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội”. Như vậy theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.95] - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm tụ hội là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [27;tr.
Trong thực tế cho thấy, quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, kế hoạch, tổ chức và hợp quy luật của các cơ quan quản lý giáo dục tới các khâu của hệ thống giáo dục nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành bình thường và đạt tới các mục tiêu giáo dục đề ra. Như vậy, quan niệm về quản lý giáo dục có thể có những cách diễn đạt khác nhau, song trong mỗi cách định nghĩa đều đề cập tới các yếu tố cơ bản sau: - Chủ thể quản lý giáo dục; - Khách thể quản lý giáo dục, - Mục tiêu quản lý giáo dục Ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật) quản lý giáo dục. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quản lý giáo dục có những đặc điểm sau: - Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý - Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược - Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi) - Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật - Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng - Quản lý giáo dục gắn với việc điều hành quá trình đào tạo con người, đặc biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo. Đặc thù lao động của người giảng viên mà đối tượng lao động sư phạm là người học với những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp.
- Người học vừa là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của hoạt động giáo dục, do đó kết quả giáo dục không chỉ phụ thuộc vào bản thân nhà giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của người học. Đây chính là đặc điểm khác biệt của quản lý giáo dục với các lĩnh vực quản lý khác. - Mặt khác phương tiện lao động của giảng viên chủ yếu là phương tiện tinh thần bằng lời, bằng tấm gương, bằng thái độ, bằng điểm tựa, bằng cảm hóa… Thời gian lao động của người giảng viên cũng khác, nó không được tách bạch, rạch ròi với thời gian không lao động sư phạm. Với bất kỳ lúc nào, ngay cả khi nghỉ ngơi, giải trí hay làm việc gia đình….