Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban ở Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Chương 3: Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban ở Trƣờng Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành công cuộc đổi mới, sau hơn 20 năm đã thu đƣợc nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngày nay đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, chính thức hội nhập với nền kinh tế thế giới, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đƣa đất nƣớc cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp hiện đại. Cùng với hệ thống giáo dục và đào tạo, giáo dục đại học, với vai trò vốn có của nó, Đảng đã có những chủ trƣơng, chính sách đổi mới cơ bản, toàn diện, quan tâm xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, vì suy cho cùng mọi thành công hay thất bại trong giáo dục đều bắt nguồn và có nguyên nhân từ công tác quản lý giáo dục. Ở Việt Nam ta, tuy khoa học quản lý giáo dục vấn còn là một ngành khoa học mới, nhƣng lại có sự quan tâm đặc biệt, nên phát triển nhanh cả về lý luận và thực tiễn. Các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Xuân Hải, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần Khánh Đức Trần Kiểm, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Ngọc Quang và một số tác giả khác về công tác quản lý giáo dục đã thật sự góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển nền giáo dục nƣớc nhà.
Những năm gần đây, một số học viên đã chọn đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục làm luận văn tốt nghiệp. Một số tác giả nghiên cứu về vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao hoặc phòng giáo dục cấp quận, huyện. Chẳng hạn: tác giả Nguyễn Văn Thêm nghiên cứu ”Các biện pháp quản lý của phòng giáo dục trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục phổ thông huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang”. Tác giả Nguyễn Thị Bích Thuỷ nghiên cứu ”Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tỉnh Bình Định đến năm 2010”.
Tác giả Nguyễn Văn Toàn nghiên cứu ”Các giải pháp quản lý của phòng giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học”. Một số tác giả nghiên cứu quản lý xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên hoặc đội ngũ cán bộ viên chức của các trƣờng đại học, cao đẳng nhƣ: Tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Anh với nghiên cứu “Các biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La trong giai đoạn mới”. Tác giả Nguyễn Văn Tuấn với nghiên cứu “Một số biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”. Tác giả Hoàng Hồng Trang nghiên cứu “Những biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý phòng ban chức năng ở Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng với yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay”.
Ở Đại học Quốc Gia Hà Nội cũng có một số tác giả nghiên cứu xung quanh vấn đề quản lý nhân lực và quản lý đội ngũ giảng viên, nhƣ luận văn: “Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên trong Đại học Quốc Gia Hà Nội” của tác giả Phạm Văn Thuần. Bài viết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Vấn đề động viên đội ngũ giảng viên ngoại ngữ” của tác giả Trần Xuân Điệp. Các công trình nghiên cứu đó thực sự là tài sản kiến thức quý báu đóng góp đáng kể nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân lực nói chung và quản lý đội ngũ giảng viên nói riêng của các trƣờng đại học, cao đẳng. Nhƣng chƣa có những nghiên cứu nào đề cập một cách cụ thể về biện pháp quản lý đội ngũ cán bộ phòng ban ở Trƣờng đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vận dụng những kiến thức trong quá trình học tập, nghiên cứu chuyên ngành quản lý giáo dục, tác giả mong muốn thông qua việc nghiên cứu ”biện pháp quản lý phát triển đội ngũ cán bộ phòng ban ở Trường ĐHNN - ĐHQGHN trong giai đoạn hiện nay”, góp phần nhỏ bé trong công tác quản lý nguồn nhân lực của nhà trƣờng trong giai đoạn của sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng - NXB Giáo dục 1998 thuật ngữ “quản lý” đƣợc định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, đƣợc tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý.
Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý nhƣ xác định mục tiêu, các chủ trƣơng, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản nhƣ tài lực, vật lực, nhân lực. để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Từ khi loài ngƣời xuất hiện, con ngƣời đã liên kết với nhau thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đƣợc với tƣ cách là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những cá nhân riêng lẻ, nhằm đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn, con ngƣời phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối. Quá trình đó, đồng thời cũng xuất hiện một loạt các mối quan hệ: quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên, giữa con ngƣời với xã hội và cả quan hệ giữa con ngƣời với chính bản thân mình; từ đó xuất hiện một số ngƣời có năng lực chi phối đƣợc ngƣời khác, cũng nhƣ điều khiển mọi hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung.
Những ngƣời đó đã đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều đó đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Khi xã hội phát triển, lao động quản lý đƣợc tách khỏi lao động trực tiếp và trở thành một nghề quản lý. Mặc dù tách ra thành hai bộ phận quản lý và lao động trực tiếp, nhƣng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, tạo thành hệ xã hội chung toàn vẹn gồm: bộ phận quản lý - chính là chủ thể quản lý, bộ phận bị quản lý - chính là đối tƣợng quản lý.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý nhƣ là kết quả tất nhiên của sự chuyển động nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạt, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội đƣợc phối hợp lại.Mác viết: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào, tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà hoạt động cá nhân. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng" [4, tr.
Chung quanh thuật ngữ “quản lý” còn có nhiều cách tiếp cận khác nhau để định nghĩa về khái niệm này. - Frederick Winslow Taylo cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trƣờng mà trong đó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, tr. Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau đã đƣa ra khái niệm quản lý khác nhau: - Trong tác phẩm “Lý luận quản lý nhà nƣớc” của Mai Hữu Khuê xuất bản năm 2003 có định nghĩa: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác.
Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài ngƣời thì đã xuất hiện sự quản lý”. - Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Hoạt động quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích đề ra”. - Trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của các tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lƣợng mới” [2, tr. Quản lý về bản chất bao gồm quá trình “quản” và quá trình “lý”.
Xét về ý nghĩa kinh tế - xã hội thì hoạt động quản lý bao gồm hai mặt gắn bó với nhau: Quản và Lý. Quản là coi sóc giữ gìn: duy trì sự ổn định của hệ. Lý là sửa sang sắp xếp: đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ. Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu hệ sẽ suy thoái.
Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren. Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suy thoái và rối ren. Nếu ngƣời đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên nếu chỉ quan tâm tới việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt nền tảng của sự ổn định, thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “quản” phải có “lý” trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động.
Hệ vận động phù LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.