Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về doanh nghiệp công nghiệp 1. Khái quát chung về doanh nghiệp công nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp a, Khái niệm doanh nghiệp Khái niệm về doanh nghiệp được nhìn nhận khác nhau tùy thuộc vào nhận thức, cách tiếp cận và mục đích, ý nghĩa của việc nhân thức về khái niệm doanh nghiệp.
Theo cách hiểu thông thường, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra các của cải, vật chất dưới dạng hàng hóa là sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho mục đích kinh doanh để kiếm lời. Theo cách tiếp cận hệ thống, doanh nghiệp là một tổ chức gồm một tập hợp các đơn vị bộ phận hợp thành trong một hệ thống cùng theo đuổi mục đích chung, các đơn vị bộ phận trong cùng hệ thống có tác động qua lại và tương hỗ lẫn nhau nhằm phục vụ cho mục đích chung của hệ thống.[13, tr7] b, Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất - một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội và là ngành sản xuất có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân hiện nay. [16, tr15] Công nghiệp bao gồm 3 loại hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy; Chế biến các loại sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông lâm ngư nghiệp thành các loại sản phẩm khác nhau đáp ứng nhu cầu khác nhau của xã hội; Hoạt động dịch vụ sửa chữa các sản phẩm công nghiệp nhằm khôi phục giá trị sử dụng của chúng. Để thực hiện các hoạt động đó, dưới sự tác động của phân công lao động xã hội trên cơ sở phát triển khoa học công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành công nghiệp: khai thác, chế biến và dịch vụ sửa chữa.
download by : skknchat@gmail.com 6 Xét trong tổng thể của quá trình tái sản xuất xã hội, hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp. Chế biến là hoạt động sử dụng các tác động cơ học, lý học, hóa học và sinh học làm thay đổi hình thức, tính chất, kích thước của các nguyên vật liệu nguyên thủy để tạo ra các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến ra các sản phẩm cuối cùng để đưa vào sử dụng trong sản xuất hoặc sinh hoạt. Thông qua hoạt động chế biến, từ một hoặc nhiều nguyên vật liệu có thể rạo ra một hoặc nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau. Sửa chữa là một loại hoạt động dịch vụ quan trọng, hoạt động dịch vụ sửa chữa công nghiệp ra đời sau hoạt động khai thác và chế biến.
Sự ra đời và phát triển dịch vụ sửa chữa giữ vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất. Như vậy, doanh nghiệp công nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất ra các của cải, vật chất dưới dạng hàng hóa là sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho mục đích kinh doanh để kiếm lời. Hoạt động kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp công nghiệp bao gồm khai thác, chế biến (hay còn gọi là sản xuất) và dịch vụ sửa chữa. Đặc điểm của các doanh nghiệp công nghiệp ở Việt Nam Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất.
Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng… Song xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất có thể coi đó là tổng thể của hai ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp, còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai ngành đó. Vì vậy, doanh nghiệp công nghiệp có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế - xã hội khác với các loại hình doanh nghiệp khác ở các khía cạnh chủ yếu sau (Nguyễn Xuân Quang và cộng sự,1999): download by : skknchat@gmail.com 7 - Trong các doanh nghiệp công nghiệp, quá trình sản xuất chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ, lý hoá của con người thông qua một công nghệ sản xuất nhất định, làm thay đổi các đối tượng lao động thành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người (khác với doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp quá trình sản xuất lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu). - Các đối tượng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp, sau mỗi chu kỳ sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể khác. Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có công dụng khác nhau (nếu so sánh với các doanh nghiệp nông nghiệp thì đối tượng lao động của doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu).
- Sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu ở các trình độ ngày càng cao của xã hội, là hoạt động duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Với đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp nêu trên, trong quá trình phát triển, doanh nghiệp công nghiệp luôn có điều kiện phát triển về kỹ thuật, tổ chức sản xuất; dễ dàng tạo ra được một đội ngũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tác phong “công nghiệp”; đồng thời, có điều kiện và cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu, tạo điều kiện tiền đề để phát triển nền sản xuất hàng hóa ở trình độ và tính chất cao hơn so với doanh nghiệp ở các ngành khác. Phân loại doanh nghiệp công nghiệp Dựa vào các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân chia DNCN thành các loại hình khác nhau, tuy nhiên, có một số cách phân chia chính như sau: download by : skknchat@gmail.com 8 a, Căn cứ vào hình thức pháp lý của doanh nghiệp công nghiệp Theo Luật Doanh nghiệp 2015, các DN được phân chia thành những loại hình sau Phạm Vũ Luận (chủ biên) (2001): - DN tư nhân một chủ: Là DN do một cá nhân làm chủ và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN. - Công ty hợp danh: Là DN có từ hai thành viên trở lên là chủ sở hữu chung của công ty, trong đó có ít nhất một thành viên hợp danh (phải là cá nhân) chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. - Công ty TNHH: Là DN do một hoặc một số tổ chức, cá nhân góp vốn thành lập và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Số lượng thành viên tối đa của công ty là 50 thành viên. - Công ty cổ phần: Là DN trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau (gọi là cổ phần) và có ít nhất 03 thành viên là tổ chức hoặc cá nhân cùng góp vốn và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp.
b, Căn cứ vào quy mô của DN Theo cách phân loại này, DN được chia thành DN có quy mô lớn vừa và nhỏ. Tiêu thức để phân loại DN theo quy mô chủ yếu dựa vào vốn, lao động, doanh thu của DN và tùy từng nền kinh tế khác nhau mà việc phân loại khác nhau. Hiện nay ở Việt Nam, các DNCN được phân loại theo quy mô dựa vào vốn và lao động. Trong đó, DN có quy mô lớn là DN có vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm trên 300 người; DN có quy mô nhỏ và vừa là DN có số vốn đăng ký không qua 10 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
download by : skknchat@gmail.com 9 c, Căn cứ vào ngành kinh tế - kỹ thuật DN được phân loại theo ngành sản xuất công nghiệp chính của DN. Tùy theo cấp độ phân ngành công nghiệp mà việc phân loại DN cũng được tiến hành khác nhau. Ở Việt Nam, theo phân ngành công nghiệp ở cấp độ 1 như sau: - DNCN khai thác; - DNCN chế biến; - DNCN sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt Việc phân chia các DNCN thành các loại hình khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của các loại hình DN bởi lẽ với mỗi loại hình DN khác nhau sẽ có những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật đặc trưng riêng. Vì vậy, cần phải có những giải pháp riêng phù hợp cho từng loại hình DN.
Vai trò của các doanh nghiệp công nghiệp Trong quá trình CNH, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, doanh nghiệp công nghiệp giữ vai trò định hướng phát triển các ngành kinh tế và tạo những điều kiện vật chất để thực hiện định hướng đó. Tuy CNH - HĐH không đồng nhất với phát triển công nghiệp và phát triển DNCN, nhưng DNCN là phương tiện truyền tải những thành tựu mới của khoa học công nghệ tới tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, là hình mẫu để cải tạo nền kinh tế quốc dân. Khái quát lại, vai trò của DNCN được thể hiện như sau: - Thứ nhất, DNCN định hướng về tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý cho các ngành kinh tế quốc dân So với các doanh nghiệp nông nghiệp, các DNCN khi tiến hành hoạt động sản xuất ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và nó có điều kiện tự đổi mới, nâng cao trình độ trang bị kỹ thuật và phân công lao động. Đó chính là yếu tố cho phép DNCN đi đầu về tổ chức sản xuất xã hội, về phân công lao động xã hội, về trình độ kỹ thuật.
download by : skknchat@gmail.