CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ viễn thông Chương này làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ viễn thông. Phần đầu sẽ làm rõ khái niệm dịch vụ, dịch vụ viễn thông, phát triển dịch vụ viễn thông; tiếp theo là nội dung phát triển dịch vụ viễn thông. Phần cuối tập trung vào các yếu tố tác động đến phát triển dịch vụ viễn thông.
Lý luận về dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ * Khái niệm: Thuật ngữ Dịch vụ (DV) được hiểu một cách khá đa dạng trong các tài liệu khác nhau. Tại Khoản 2, Điều 4, Luật giá năm 2013 đã quy định như sau: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Theo Nguyễn Thu Nhàn (2015): Dịch vụ là những hoạt động lao động tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người.
Có thể thấy, các quan điểm trên có độ tương đồng khá cao. Trong luận văn, tác giả sử dụng thuật ngữ dịch vụ theo cách tiếp cận của Luật giá năm 2013. Qua khái niệm về DV ta thấy, mỗi loại DV đều gắn liền với một hệ thống cung ứng nhất định; không có các hệ thống cung ứng này thì không thể có DV. Chính vì vậy, khi đề cập đến DV không thể không nói đến hệ thống cung cấp DV.
Hệ thống cung ứng DV được tổ chức chặt chẽ nhằm đảm bảo thực hiện quá trình cung cấp cho khách hàng một cách có hiệu quả. Các yếu tố trong hệ thống cung ứng bao gồm: khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp DV, người cung ứng DV, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân DV. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ 6 thống. Nếu có sự thay đổi một yếu tố này đều dẫn tới sự thay đổi toàn hệ thống và thay đổi loại hình DV (Nguyễn Thu Nhàn, 2015).
* Đặc điểm của dịch vụ: Khác với những loại hàng hoá hữu hình khác, DV có một số đặc điểm nổi bật, đó là: tính vô hình, tính không đồng nhất, tình không tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ, không thể dự trữ được và không chuyển quyền sở hữu được. - Tính vô hình: DV có tính vô hình, không tồn tại dưới dạng vật chất. Người ta không thể quan sát và cầm nắm trực tiếp được. Tính vô hình của DV gây khó khăn cho nhận biết và quản lý hoạt động cung cấp DV.
Để nhận biết DV phải tìm hiểu qua những đầu mối vật chất trong môi trường hoạt động DV như các trang thiết bị, dụng cụ, ánh sáng, âm thanh… và con người có liên quan trực tiếp đến hoạt động cung cấp DV. - Tính không đồng nhất: DV không tiêu chuẩn hoá được do quá trình tiêu thụ gắn với quá trình sản xuất mà còn mà yếu tố con người là chủ đạo trong các khâu cung cấp chất lượng DV. Người sử dụng DV phải là những người có kinh nghiệm, kiến thức thì mới có thể cảm nhận được sự đồng nhất về chất lượng của DV. Do vậy, rất khó để có một tiêu chuẩn chung khi đánh giá chất lượng của DV.
Thậm chí cùng một loại hình DV cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm sẽ được đánh giá trước tiên qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì DV mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật. Ngoài ra, chất lượng DV còn được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng, nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau và có thể thay đổi theo thời gian. - Tình không tách rời giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ: DVthường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều khâu trung gian, rồi sau đó mới đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Quá trình sản xuất gắn với quá trình tiêu thụ của DV sẽ dẫn đến việc khó có thể sửa chữa các sai sót trong khi sử dụng DV như các hàng hoá khác.
- Tính không thể dự trữ được: Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Nhà cung cấp DVkhông cất trữ những DVnhưng họ cất 7 trữ khả năng cung cấp DVcho những lần tiếp theo. DVchỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, DV không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán.
- Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi (Nguyễn Thị Thu Nhàn, 2015). Khái niệm, phân loại dịch vụ viễn thông a) Khái niệm dịch vụ viễn thông * Viễn thông: Theo quan điểm của Pete Moulton (2001): “Viễn thông là khoa học của sự truyền đạt thông tin qua một khoảng cách dài sử dụng công nghệ điện thoại hoặc công nghệ vô tuyến, nó liên quan đến việc sử dụng các công nghệ vi điện tử, công nghệ máy tính và công nghệ máy tính cá nhân để truyền, nhận và chuyển mạch âm thanh, dữ liệu, hình ảnh qua các phương tiện truyền dẫn khác nhau như cáp đồng, cáp quang và truyền dẫn điện từ” * Dịch vụ viễn thông: Theo qui định tại Điều 37, Nghị định số 109/1997/NĐ-CP ngày 12/11/1997 của Chính phủ về Bưu chính và viễn thông: Dịch vụ viễn thông được hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát thu những ký hiệu tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp. Từ khái niệm trên chúng ta có thể thấy, DVVT là kết quả của quá trình truyền đưa thông tin.
Kết quả có ích của quá trình truyền đưa thông tin được tạo nên bởi 3 tính chất cơ bản là: Tin tức cần được chuyển giao chính xác đến người nhận tin, nội dung truyền đưa tin tức phải được đảm bảo nguyên vẹn, tin tức cần phải được đưa kịp thời đến người nhận tin. Như vậy, DVVT là một dạng trao đổi thông tin và là hình thức trao đổi thông tin hiện đại nhất. Ngoài ra, khi đề cập đến viễn thông là nói đến một hệ thống cung cấp DVVT 8 bao gồm các yếu tố cấu thành nên mạng lưới cung cấp: Khách hàng, nhà cung ứng, môi trường trao đổi thông tin và các DVVT do nhà cung ứng cung cấp. Trong đó, khách hàng là người sử dụng DVVT, khách hàng đó có thể là những cá nhân, tập thể, các tổ chức doanh nghiệp hay Chính phủ.
Nhà cung ứng là các doanh nghiệp cung cấp một số hay phần lớn DVVT. Môi trường vật chất cần thiết cho việc cung ứng DVVT bao gồm hệ thống tổng đài, thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, hệ thống mạng cáp, hệ thống nhà trạm, quầy giao dịch… và lao động trong DN viễn thông. b) Phân loại Dịch vụ viễn thông bao gồm nhiều loại DV, được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau. Trong luận văn, tác giả phân loại DVVT theo trong các văn bản quy phạm pháp luật cơ bản là: Điều 9, Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/04/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông; Điều 3, Thông tư số 05/2012/TT-BTTTT ngày 18/05/2012 của Bộ TT&TT về việc Phân loại dịch vụ viễn thông.
Việc phân loại các DVVT được tóm tắt qua bảng 1.1 dưới đây, chi tiết về các loại DVVT được phân tích tại Phụ lục 1. Phân loại dịch vụ viễn thông Căn cứ phân loại Dịch vụ viễn thông được phân loại thành: Theo Điều 9 Nghị định số (1): Dịch vụ viễn thông cơ (2). Dịch vụ viễn thông giá 25/2011/NĐ-CP ngày bản, bao gồm: Dịch vụ thoại; trị gia tăng, bao gồm: Dịch 06/04/2011 của Chính phủ Dịch vụ fax; Dịch vụ truyền số vụ thư điện tử; Dịch vụ thư quy định chi tiết và hướng liệu; Dịch vụ truyền hình ảnh; thoại; Dịch vụ fax gia tăng dẫn thi hành một số điều Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ hội giá trị; Dịch vụ truy nhập của Luật Viễn thông. nghị truyền hình; Dịch vụ kênh Internet; Các DVVT giá trị thuê riêng; Dịch vụ kết nối gia tăng khác theo quy định Internet; Các DVVT cơ bản của Bộ TT&TT.
khác theo quy định của Bộ TT&TT. Theo Điều 3, Thông tư Phân loại dịch vụ viễn thông, số 05/2012/TT- BTTTT của Bộ TT&TT - Thứ nhất, theo đặc (1) DVVT cố định, được (2) DVVT di động, được điểm công nghệ, phương chia thành: DVVT cố định chia thành: DVVT di thức truyền dẫn của mạng mặt đất (gồm DV nội hạt, động mặt đất, di động vệ viễn thông. đường dài trong nước, quốc tinh, di động hàng hải, di 9 Căn cứ phân loại Dịch vụ viễn thông được phân loại thành: tế); DVVT cố định vệ tinh. động hàng không.
DVVT cố định bao gồm: DVVT di động, gồm: DVVT cơ bản (các DV: điện DVVT cơ bản (các DV: điện thoại, truyền số liệu, nhắn thoại, fax, truyền số liệu …); tin…); DVVT GTGT (các DV: DVVT GTGT (các DV: thư thư điện tử, thư thoại; fax điện tử, thư thoại; fax GTGT…); DVVT cộng thêm GTGT…); DVVT cộng thêm 1 (các DV: hiển thị số chủ gọi; (các DV: hiển thị số chủ gọi; dịch vụ giấu số gọi…). dịch vụ giấu số gọi…). - Thứ hai, theo hình (1) DVVT trả trước: Là DV (2) DVVT trả sau: Là DV thức thanh toán giá cước. mà người sử dụng DVVT mà người sử dụng DVVT thanh toán giá cước sử dụng thanh toán giá cước sử dụng DV trước khi sử dụng DV theo DV sau khi sử dụng DV theo thỏa thuận giữa hai bên.
thỏa thuận giữa hai bên. - Thứ ba, theo phạm vi (1) DVVT nội mạng: Là DV (2) DVVT liên mạng: Là liên lạc. gửi, truyền, nhận và xử lý DV gửi, truyền, nhận và xử thông tin giữa những người sử lý thông tin giữa những dụng DV của cùng một mạng người sử dụng DV của các viễn thông; mạng viễn thông khác nhau.