phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm 4 chương: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh doanh dịch vụ thẻ của các ngân hàng thương mại; - Chƣơng 2. Phương pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3. Thực trạng phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ tại Agribank Phú Thọ giai đoạn 2010 -2013; - Chƣơng 4. Giải pháp phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ tại Agribank Phú Thọ giai đoạn 2014 -2020.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng 1. Khái niệm về thẻ ngân hàng Thanh toán không dùng tiền mặt đã và đang trở thành xu thế tất yếu và phổ biến tại các nước đang phát triển trên thế giới. Một trong những phương tiện góp phần quan trọng vào sự phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt là thẻ ngân hàng.
Thẻ ngân hàng được phát triển dựa trên nền tảng công nghệ khoa học tiên tiến, việc thanh toán thẻ không chỉ thực hiện tại các ATM/EDC mà còn có thể thực hiện thanh toán qua Internet, điện thoại di động, v. Khái niệm về thẻ ngân hàng, có rất nhiều cách nhìn nhận. Tuỳ từng góc độ nghiên cứu, phân tích, người ta đưa ra các khái niệm về thẻ ngân hàng khác nhau. Song điểm chung nhất đều thống nhất là: bản chất thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán, chi trả mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thoả mãn nhu cầu về tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt hoặc sử dụng nó làm công cụ thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp.
Thẻ không hoàn toàn là tiền tệ, nó là biểu tượng về sự cam kết của ngân hàng hoặc tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của ngân hàng cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại ngân hàng. Như vậy, trên từng góc độ có những khái niệm khác nhau. Chẳng hạn: Từ góc độ phát hành: Thẻ là một phương tiện do ngân hàng, các định chế tài chính hoặc các công ty phát hành dùng để giao dịch mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt. Từ góc độ công nghệ thanh toán: Thẻ là phương thức thanh toán ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thực hiện trên hệ thống thanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 toán được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng và tin học viễn thông.
Theo Quyết định 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và xét theo mục đích sử dụng: Thẻ ngân hàng là một phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động, các ngân hàng đại lý, các điểm chấp nhận thẻ. Từ các khái niệm trên, có thể thấy: Nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển, các chức năng của tiền cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện. Thậm chí, người ta có những quan niệm rất mới về tiền là bất cứ vật gì làm được nhiệm vụ thanh toán trong quá trình trao đổi hàng hoá thì đều được gọi là tiền. Các chức năng của tiền phát triển chủ yếu ở chức năng thanh toán.
Do vậy, chức năng sử dụng của thẻ hiện nay cũng được phát triển, dựa trên sự phát triển của công nghệ. Nên mục đích sử dụng thẻ ngân hàng không còn bó hẹp trong từng lĩnh vực cụ thể như lúc mới hình thành. Với một tấm thẻ không chỉ dùng để thanh toán tại đơn vị chấp nhận thẻ để mua hàng hoá dịch vụ, cũng không chỉ dùng để rút tiền mặt thuần tuý. mà với một tấm thẻ, khách hàng có thể vừa dùng để mua hàng, rút tiền mặt, chuyển khoản, xem sao kê tài khoản của mình tại ngân hàng, giao dịch mua bán qua Internet, trả cước phí dịch vụ công cộng; chủ thẻ có thể vừa sử dụng bằng tiền gửi của mình tại ngân hàng, vừa sử dụng tiền vay nếu đựơc ngân hàng chấp nhận.
Vậy khái niệm thẻ ngân hàng có thể được hiểu là: Thẻ ngân hàng có chức năng sử dụng đa năng. Chủ thẻ có thể kết nối với các chủ thể khác tham gia hệ thống thanh toán thẻ phục vụ quá trình lưu chuyển hàng hoá, tiền tệ được thoả thuận trước nhằm thực hiện các dịch vụ thoả mãn nhu cầu của mình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Sự hình thành và phát triển của kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng 1.
Sự hình thành và phát triển của kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng trên thế giới Thẻ xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới ở Mỹ vào năm 1914, khi đó tổng công ty xăng dầu California (nay là công ty Mobile) cấp thẻ cho nhân viên & một số khách hàng của mình vì họ thấy cách sử dụng này rất tiện dụng trong việc thanh toán. Nhưng thẻ lúc này mới chỉ là khuyến khích việc bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo một dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng. Thẻ thanh toán chỉ thực sự ra đời từ những năm cuối 1940 và đầu những năm 1950 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ. Đến nay, các sản phẩm thẻ được sử dụng phổ biến, rộng rãi nhất và phân chia nhau thống trị các thị trường lớn, gồm: Visa, MasterCard, Diners Club, JCB, Amex.
Các sản phẩm thẻ ngày càng đa dạng, phong phú cả về hình thức và tiện ích dựa trên sự phát triển của công nghệ hiện đại như: Thẻ ghi nợ (debit card), thẻ tín dụng (credit card), thẻ trả trước (prepaid card), thẻ công ty (business card), thẻ không tiếp xúc (contactless), thẻ gift card, v.v… Ngày nay, có thể nói 4 loại thẻ nhựa: JCB, American Express, Visa, Master Card được khách hàng ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Các loại thẻ này cũng du nhập vào Việt Nam vào đầu những năm 90. Cụ thể như sau: ü Thẻ American Express (Amex) ra đời vào năm 1958, hiện nay đang là tổ chức thẻ du lịch & giải trí lớn nhất thế giới. Đến năm 1987, Amex cho ra đời loại thẻ tín dụng mới có khả năng cung cấp tín dụng tuần hoàn cho khách hàng để cạnh tranh với Visa và Master Card.
ü Thẻ Visa, tiền thân là Bank Americard do Bank of America phát hành vào năm 1960. Ngày nay, Visa là loại thẻ có quy mô phát triển lớn nhất toàn cầu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Với công nghệ sáng tạo của thẻ Visa đã giúp cho khách hàng của Visa có thêm nhiều sự lựa chọn cho mục đích sử dụng: thanh toán ngay với thẻ ghi nợ, thanh toán trước với thẻ trả trước, hoặc thanh toán sau với các sản phẩm thẻ tín dụng. ü JCB là loại thẻ được xuất phát từ Nhật Bản vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa, đã bắt đầu phát triển thành một cơ sở quốc tế vào năm 1981.
Mục tiêu chủ yếu là hướng vào thị trường du lịch và giải trí, đang là loại thẻ cạnh tranh với Amex. ü Master Card ra đời vào năm 1966 với tên gọi là Master Charge do Hiệp hội thẻ liên ngân hàng phát hành thông qua các thành viên trên thế giới. Năm 1990, hệ thống máy ATM lớn nhất thế giới đã được sử dụng để phục vụ cho những người sử dụng thẻ Master.1: Thị phần phát hành thẻ của các TCTQT năm 2012 (Nguồn: Báo cáo tổ chức thẻ Quốc tế năm 2012) Hiện nay, thị trường phát hành thẻ toàn cầu được chia thành 6 khu vực chính, bao gồm: Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á Thái Bình Dương, Canada, Latinh và Caribê, Trung Đông và Châu Phi. Đối với mỗi khu vực có một điều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 kiện kinh tế xã hội, dân cư, địa lý khác nhau, chính vì thế hoạt động thanh toán thẻ cũng có những điểm khác nhau: Một là, Mỹ - nơi khởi nguồn của thẻ thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà hoạt động thanh toán thẻ phát triển nhất.
Đến thời điểm hiện tại, khu vực này dường như đã bão hoà về thẻ, do đó sự cạnh tranh và phân chia thị trường rất khốc liệt. Hai là, Châu Âu đã nhanh chóng trở thành một thị trường thẻ phát triển mạnh đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ. Đa phần thẻ thanh toán lưu hành tại thị trường này là thẻ ghi nợ. Là khu vực có trình độ dân trí cao, kinh tế phát triển, việc sử dụng thẻ trong thanh toán trở nên phổ biến.
Người dân sử dụng thẻ không chỉ vì được cấp tín dụng mà chủ yếu là vì những tiện ích mà thẻ thanh toán mang lại cho họ. Đến nay, Châu Âu vẫn tiếp tục là thị trường phát hành và thanh toán thẻ lớn với sự đa dạng về sản phẩm thẻ, sự phát triển mạnh của công nghệ thanh toán thẻ. Ba là, Châu Á - Thái Bình Dương gồm 41 quốc gia với những điều kiện cơ sở hạ tầng, tập quán tiêu dùng khác nhau. Tại khu vực này, hầu hết các nước đều có sử dụng dịch vụ thanh toán thẻ.
Thẻ Visa, MasterCard là 2 loại thẻ thanh toán giữ vị trí hàng đầu, thẻ JCB tuy có thị phần nhỏ hơn nhưng hiện nay lại có tốc độ phát triển rất nhanh. Với đặc điểm bao gồm nhiều nước đang phát triển, khu vực này hứa hẹn một tiềm năng tiêu dùng và sử dụng thẻ rất lớn. Bốn là, Canada - một trong những thị trường có thẻ tín dụng phát triển mạnh nhất trên thế giới. Tại đây, khách hàng khá trung thành với ngân hàng của mình nên thường chỉ chấp nhận thanh toán thẻ của các tổ chức phát hành thẻ trong liên minh.
Tại thị trường này, thẻ VISA được sử dụng vượt trội hơn hẳn so với thẻ MasterCard, ngoài ra còn có sự góp mặt của thẻ Amex và Diners Club với hai mục tiêu chính là lĩnh vực hàng không và du lịch. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 10 Năm là, Châu Mỹ Latinh là khu vực có sự phát triển không đồng đều giữa các nước, bao gồm cả những nước phát triển và những nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng và công nghệ thông tin nhìn chung là yếu kém, vì vậy sự phát triển về hoạt động thanh toán thẻ tại mỗi quốc gia cũng không đồng đều. Sáu là,Trung Đông và Châu Phi là khu vực nổi tiếng về du lịch và có môi trường, điều kiện để kinh doanh thẻ. Các thương hiệu thẻ chủ yếu tại thị trường này là MasterCard, Visa và Amex.
Mạng lưới ATM ở đây cũng phát triển khá mạnh, chủ yếu được lắp đặt ở Nam Phi và Trung Đông.