Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển DVTĐG trong nền kinh tế quốc dân. Giới thiệu về DVTĐG và cơ sở khoa học phát triển DVTĐG và nghiên cứu kinh nghiệm DVTĐG ở một số quốc gia. Chương 2: Thực trạng phát triển DVTĐG ở Việt Nam thời gian qua. Giới thiệu tình hình phát triển DVTĐG thời gian qua và phân tích các nhân tố tác động đến phát triển DVTĐG và đánh giá chung về hoạt động DVTĐG ở VN.
Chương 3: Giải pháp phát triển DVTĐG ở Việt Nam. Trình bày quan điểm và giải pháp phát triển DVTĐG, các kiến nghị, cũng như các hạn chế của nghiên cứu này để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DVTĐG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1. KHÁI NIỆM VỀ TĐG VÀ DVTĐG 1.
Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một lĩnh vực rất phong phú, đa dạng và phát triển không ngừng theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Xu hướng phát triển kinh tế thế giới thì ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm quốc nội so với ngành công nghiệp và nông nghiệp, và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Dịch vụ được xem là ngành góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Dịch vụ là một yếu tố không thể tách rời quá trình sản xuất hàng hóa, làm tăng giá trị và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa.
Ở các nước phát triển, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường rất cao (chẳng hạn, ở Mỹ ngành dịch vụ chiếm 70% GDP). Vào những năm cuối thế kỷ XX dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học. Có nhiều quan niệm khác về dịch vụ. Theo cách chung nhất có hai cách hiểu như sau: - Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lãnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân.
Có nghĩa là các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ. - Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động tiếp tục, hỗ trợ, khuếch trương cho quá trình kinh doanh, bao gồm các hoạt động trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng [14, tr 312]. - Theo từ điển Oxford định nghĩa dịch vụ là ngành cung cấp những sản phẩm vô hình. Dịch vụ là một loại hàng hóa có đặc điểm riêng khác với hàng hóa thông thường.
Theo tài liệu của dự án MUTRAP – Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (2006), dịch vụ là một loại hình hoạt động kinh tế, tuy không đem lại một sản phẩm cụ thể như hàng hóa, nhưng vì là một loại hình kinh tế nên cũng có người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (khách hàng sử dụng dịch vụ) [23, tr2]. 1 Như vậy, có thể định nghĩa dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng. Phân loại các loại hình dịch vụ Dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu phi vật chất của con người. Xã hội ngày càng phát triển thì các loại hình dịch vụ càng phát triển phong phú và đa dạng.
Có thể phân loại dịch vụ theo những tiêu thức chủ yếu sau đây: - Theo nguồn gốc xuất xứ của dịch vụ, người ta có thể chia dịch vụ thành hai loại: dịch vụ có nguồn gốc từ con người và dịch vụ có nguồn gốc từ máy móc. Dịch vụ có nguồn gốc từ con người là những dịch vụ do con người thực hiện. Đó là các dịch vụ cần đến nguồn nhân lực chuyên nghiệp được đào tạo bài bản như: bác sĩ, luật sư, chuyên gia thẩm mỹ, kinh doanh chứng khoán, kiểm toán, DVTĐG, … Dịch vụ có nguồn gốc từ máy móc, thiết bị bao gồm cả 2 loại là dịch vụ do máy móc tự động như: máy rút tiền ATM, máy bán hàng tự động, … hoặc máy móc thiết bị cần đến sự điều khiển của con người như: dịch vụ vận tải, y tế, … - Phân loại theo mục đích của người cung ứng dịch vụ, ta có thể chia thành hai loại dịch vụ kinh doanh và dịch vụ phi kinh doanh. Dịch vụ kinh doanh là những loại hình dịch vụ mà người cung cấp là các chủ thể kinh doanh như: dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, dịch vụ tài chính, … Dịch vụ phi kinh doanh: là những loại hình dịch vụ không nhằm mục tiêu lợi nhuận như: dịch vụ y tế cộng đồng, dịch vụ hành chính công, … - Phân loại theo lĩnh vực ngành nghề hoạt động, căn cứ vào lĩnh vực ngành nghề hoạt động tổ chức thương mại thế giới – WTO đã phân chia thành 12 phân ngành dịch vụ gồm: Dịch vụ kinh doanh Dịch vụ liên lạc Dịch vụ xây dựng thi công Dịch vụ phân phối: đại lý hoa hồng, bán lẻ, bán buôn và đại lý mượn danh.
Dịch vụ giáo dục. 1 Dịch vụ môi trường: dịch vụ thoát nước, vệ sinh và xử lý chất thải. Dịch vụ tài chính: Bảo hiểm trực tiếp, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ bảo hiểm hỗ trợ khác; Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, kể cả các dịch vụ liên quan đến chứng khoán, cung cấp thông tin tài chính và quản lý tài sản. Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội.
Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành. Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao. Dịch vụ vận tải: dịch vụ vận tải đường biển, đường sông, đường bộ, vận tải đường ống, vận tải da phương thức, các dịch vụ hỗ trợ cho tất cả các phương thức vận tải. Các dịch vụ khác: gồm bất kỳ các loại dịch vụ nào chưa nêu ở trên.
Thẩm định giá 1. Khái niệm TĐG Theo từ điển Oxford: “TĐG là sự ước tính giá trị bằng tiền của một vật, một tài sản” .Seabrooke-Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh: “TĐG là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”. Theo ông Fred Peter Marrone – Giám đốc marketing của AVO, Úc: “TĐG là việc xác định giá trị của một bất động sản tại một thời điểm có tính đến bản chất của bất động sản và mục đích của TĐG. Do vậy, TĐG là áp dụng các dữ liệu của thị trường, mà các thẩm định viên thu thập được so sánh và phân tích chúng, sau đó so sánh với tài sản được yêu cầu TĐG để hình thành giá trị của chúng”.
Theo GS Lim Lan Yuan – Singapore: “TĐG là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”. Theo Pháp lệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 năm 2002 của Việt Nam thì: “TĐG là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị 1 trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”. Từ các phân tích trên, có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về TĐG: “TĐG là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị của tài sản (quyền tài sản) phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế hoặc quốc gia”. Mối quan hệ giữa TĐG và kiểm toán Kiểm toán có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa, tùy theo mỗi quốc gia, mỗi hiệp hội, mỗi nhóm chuyên giá nghiên cứu lại có những phát biểu khác nhau về kiểm toán.
Các chuyên gia giáo dục và đào tạo kiểm toán của Cộng hòa Pháp định nghĩa kiểm toán như sau: “kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản hàng năm của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”. Ở Việt Nam, các nhà kinh tế có khái niệm đơn giản hơn là “kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật riêng của kiểm toán, do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”. Từ khái niệm về kiểm toán và TĐG, cũng như nghiên cứu quá trình thực hiện hai nghề này có thể nêu ra một số điểm giống nhau và khác nhau giữa hai DV này như sau: Sự giống nhau thể hiện ở những nội dung chính yếu sau: Cả hai loại ý kiến được cung cấp bởi các tổ chức chuyên nghiệp độc lập được quy định ở mỗi nhà nước. Các tổ chức này thường có mối liên hệ mang tính quốc tế.
Cả hai phương pháp luận được thừa nhận trên trường quốc tế. Cả hai là những công cụ quyết định để sử dụng trong quản lý và mục đích khác. 1 Cả hai chấp nhận một số cách tiếp cận chung, ví dụ: sự phê chuẩn của bên thứ ba, sự thẩm tra cụ thể của các tài sản cố định, … Trong một số trường hợp, giá trị thanh lý, các chi phí thay thế và giá trị thị trường đều được sử dụng trong cả các cam kết về kiểm toán lẫn TĐG. Sự khác nhau thể hiện ở những nội dung chính yếu sau: Kiểm toán cho ý kiến về tính khách quan hợp lý của việc trình bày các báo cáo tài chính một cách tổng thể như lỗ và lãi, bảng cân đối của các luồng tiền mặt.
TĐG cho ý kiến về một phần xác định của doanh nghiệp thường là về tài sản cố định hoặc tòa nhà, nhà xưởng, máy móc và thiết bị và thỉnh thoảng giá trị bản thân doanh nghiệp. Thẩm định giá dựa trên giá thị trường tại thời điểm, địa điểm nhất định của tài sản. Kiểm toán dựa trên chứng từ sổ sách theo đúng những chế độ, quy định của nhà nước.