Nghiên Cứu Phát Triển Dịch Vụ Thẩm Định Giá Ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích Phát triển dịch vụ thẩm định giá ở việt nam luận án tiến sĩ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2012

212
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN

1.1. Khái niệm về thẩm định giá và dịch vụ thẩm định giá

1.2. Cơ sở khoa học về phát triển dịch vụ thẩm định giá

1.3. Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ thẩm định giá tại một số quốc gia

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

2.1. Tình hình phát triển dịch vụ thẩm định giá từ 1997 đến 2011

2.2. Phân tích các nhân tố tác động đến sự phát triển dịch vụ thẩm định giá

2.3. Đánh giá chung về hoạt động dịch vụ thẩm định giá tại Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẨM ĐỊNH GIÁ Ở VIỆT NAM

3.1. Quan điểm phát triển dịch vụ thẩm định giá ở Việt Nam đến năm 2020

3.2. Giải pháp phát triển dịch vụ thẩm định giá ở Việt Nam

3.2.1. Mục tiêu của các giải pháp phát triển dịch vụ thẩm định giá

3.2.2. Căn cứ đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ thẩm định giá

3.2.3. Nội dung các giải pháp phát triển dịch vụ thẩm định giá

3.2.3.1. Giải pháp nâng cao chất lượng và giá trị dịch vụ thẩm định giá
3.2.3.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thẩm định giá
3.2.3.3. Hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển dịch vụ thẩm định giá
3.2.3.4. Phát triển doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thẩm định giá
3.2.3.5. Cung ứng dịch vụ thẩm định giá tài sản vô hình
3.2.3.6. Phát triển hợp tác quốc tế và cung ứng dịch vụ thẩm định giá ra thị trường thế giới
3.2.3.7. Phát triển số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thẩm định giá

3.3. Kiến nghị với cơ quan nhà nước và Hội thẩm định giá Việt Nam

3.3.1. Nhận thức về vai trò của Chính phủ trong dịch vụ thẩm định giá

3.3.2. Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước về dịch vụ thẩm định giá

3.3.3. Thành lập viện thẩm định giá Nhà nước

3.3.4. Kiến nghị đối với Hội thẩm định giá Việt Nam

3.3.5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thẩm định giá

3.3.6. Kiến nghị nâng cao năng lực của đội ngũ thẩm định viên cả về số lượng và chất lượng

3.3.7. Tăng cường cơ sở vật chất, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động của dịch vụ thẩm định giá

3.3.8. Thành lập hội đồng thẩm định giá quốc gia

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Dịch Vụ Thẩm Định Giá Tại Việt Nam

Dịch vụ thẩm định giá (DVTĐG) đã trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Sự phát triển của DVTĐG không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị trường mà còn hỗ trợ các quyết định đầu tư, quản lý tài sản và giao dịch thương mại. Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, DVTĐG đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua.

1.1. Khái Niệm Và Vai Trò Của Dịch Vụ Thẩm Định Giá

Dịch vụ thẩm định giá là quá trình xác định giá trị tài sản, bao gồm bất động sản, doanh nghiệp và tài sản vô hình. Vai trò của DVTĐG rất quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các giao dịch tài sản.

1.2. Lịch Sử Phát Triển Dịch Vụ Thẩm Định Giá Tại Việt Nam

DVTĐG tại Việt Nam bắt đầu phát triển từ những năm 1990, khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Từ đó, nhiều công ty thẩm định giá đã được thành lập, góp phần vào sự phát triển của ngành.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Dịch Vụ Thẩm Định Giá

Mặc dù DVTĐG đã có những bước tiến, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức lớn. Các vấn đề như khung pháp lý chưa hoàn thiện, thiếu thông tin và cơ sở dữ liệu, và sự cạnh tranh không lành mạnh đang cản trở sự phát triển của ngành.

2.1. Khung Pháp Lý Chưa Hoàn Thiện

Khung pháp lý cho DVTĐG tại Việt Nam còn nhiều bất cập, dẫn đến việc thực hiện các quy định không đồng bộ và thiếu tính khả thi. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành.

2.2. Thiếu Thông Tin Và Cơ Sở Dữ Liệu

Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về thẩm định giá còn nghèo nàn, manh mún. Điều này gây khó khăn cho các thẩm định viên trong việc đưa ra các quyết định chính xác.

III. Phương Pháp Phát Triển Dịch Vụ Thẩm Định Giá Tại Việt Nam

Để phát triển DVTĐG, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Các giải pháp này bao gồm cải thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực đội ngũ thẩm định viên và phát triển công nghệ thông tin.

3.1. Cải Thiện Khung Pháp Lý

Cần xây dựng một khung pháp lý đồng bộ và rõ ràng để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thẩm định giá. Điều này sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và giảm thiểu rủi ro trong các giao dịch.

3.2. Nâng Cao Năng Lực Đội Ngũ Thẩm Định Viên

Đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ thẩm định viên là rất cần thiết. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn tạo ra sự tin tưởng từ phía khách hàng.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Dịch Vụ Thẩm Định Giá

DVTĐG đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như bất động sản, tài chính và bảo hiểm. Sự phát triển của dịch vụ này không chỉ giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa giá trị tài sản mà còn hỗ trợ các quyết định đầu tư hiệu quả.

4.1. Ứng Dụng Trong Bất Động Sản

Trong lĩnh vực bất động sản, DVTĐG giúp xác định giá trị thị trường của tài sản, từ đó hỗ trợ các quyết định mua bán và đầu tư. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh thị trường bất động sản đang phát triển mạnh mẽ.

4.2. Ứng Dụng Trong Tài Chính

DVTĐG cũng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là trong việc định giá tài sản thế chấp cho các khoản vay. Điều này giúp các ngân hàng và tổ chức tài chính giảm thiểu rủi ro.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Dịch Vụ Thẩm Định Giá Tại Việt Nam

Tương lai của DVTĐG tại Việt Nam hứa hẹn sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Với sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức liên quan, ngành thẩm định giá có thể trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường.

5.1. Triển Vọng Phát Triển Ngành

Ngành thẩm định giá có tiềm năng phát triển lớn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ giúp ngành này phát triển bền vững.

5.2. Vai Trò Của Chính Phủ Trong Phát Triển DVTĐG

Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển DVTĐG, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở khoa học về phát triển DVTĐG trong nền kinh tế quốc dân. Giới thiệu về DVTĐG và cơ sở khoa học phát triển DVTĐG và nghiên cứu kinh nghiệm DVTĐG ở một số quốc gia. Chương 2: Thực trạng phát triển DVTĐG ở Việt Nam thời gian qua. Giới thiệu tình hình phát triển DVTĐG thời gian qua và phân tích các nhân tố tác động đến phát triển DVTĐG và đánh giá chung về hoạt động DVTĐG ở VN.

Chương 3: Giải pháp phát triển DVTĐG ở Việt Nam. Trình bày quan điểm và giải pháp phát triển DVTĐG, các kiến nghị, cũng như các hạn chế của nghiên cứu này để định hướng cho nghiên cứu tiếp theo. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DVTĐG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1. KHÁI NIỆM VỀ TĐG VÀ DVTĐG 1.

Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một lĩnh vực rất phong phú, đa dạng và phát triển không ngừng theo sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Xu hướng phát triển kinh tế thế giới thì ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm quốc nội so với ngành công nghiệp và nông nghiệp, và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Dịch vụ được xem là ngành góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Dịch vụ là một yếu tố không thể tách rời quá trình sản xuất hàng hóa, làm tăng giá trị và tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa.

Ở các nước phát triển, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường rất cao (chẳng hạn, ở Mỹ ngành dịch vụ chiếm 70% GDP). Vào những năm cuối thế kỷ XX dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học. Có nhiều quan niệm khác về dịch vụ. Theo cách chung nhất có hai cách hiểu như sau: - Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lãnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân.

Có nghĩa là các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp đều thuộc ngành dịch vụ. - Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động tiếp tục, hỗ trợ, khuếch trương cho quá trình kinh doanh, bao gồm các hoạt động trước, trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng [14, tr 312]. - Theo từ điển Oxford định nghĩa dịch vụ là ngành cung cấp những sản phẩm vô hình. Dịch vụ là một loại hàng hóa có đặc điểm riêng khác với hàng hóa thông thường.

Theo tài liệu của dự án MUTRAP – Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (2006), dịch vụ là một loại hình hoạt động kinh tế, tuy không đem lại một sản phẩm cụ thể như hàng hóa, nhưng vì là một loại hình kinh tế nên cũng có người bán (người cung cấp dịch vụ) và người mua (khách hàng sử dụng dịch vụ) [23, tr2]. 1 Như vậy, có thể định nghĩa dịch vụ như sau: Dịch vụ là sản phẩm của lao động, không tồn tại dưới dạng vật thể, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, tiêu dùng. Phân loại các loại hình dịch vụ Dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu phi vật chất của con người. Xã hội ngày càng phát triển thì các loại hình dịch vụ càng phát triển phong phú và đa dạng.

Có thể phân loại dịch vụ theo những tiêu thức chủ yếu sau đây: - Theo nguồn gốc xuất xứ của dịch vụ, người ta có thể chia dịch vụ thành hai loại: dịch vụ có nguồn gốc từ con người và dịch vụ có nguồn gốc từ máy móc.  Dịch vụ có nguồn gốc từ con người là những dịch vụ do con người thực hiện. Đó là các dịch vụ cần đến nguồn nhân lực chuyên nghiệp được đào tạo bài bản như: bác sĩ, luật sư, chuyên gia thẩm mỹ, kinh doanh chứng khoán, kiểm toán, DVTĐG, …  Dịch vụ có nguồn gốc từ máy móc, thiết bị bao gồm cả 2 loại là dịch vụ do máy móc tự động như: máy rút tiền ATM, máy bán hàng tự động, … hoặc máy móc thiết bị cần đến sự điều khiển của con người như: dịch vụ vận tải, y tế, … - Phân loại theo mục đích của người cung ứng dịch vụ, ta có thể chia thành hai loại dịch vụ kinh doanh và dịch vụ phi kinh doanh.  Dịch vụ kinh doanh là những loại hình dịch vụ mà người cung cấp là các chủ thể kinh doanh như: dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, dịch vụ tài chính, …  Dịch vụ phi kinh doanh: là những loại hình dịch vụ không nhằm mục tiêu lợi nhuận như: dịch vụ y tế cộng đồng, dịch vụ hành chính công, … - Phân loại theo lĩnh vực ngành nghề hoạt động, căn cứ vào lĩnh vực ngành nghề hoạt động tổ chức thương mại thế giới – WTO đã phân chia thành 12 phân ngành dịch vụ gồm:  Dịch vụ kinh doanh  Dịch vụ liên lạc  Dịch vụ xây dựng thi công  Dịch vụ phân phối: đại lý hoa hồng, bán lẻ, bán buôn và đại lý mượn danh.

 Dịch vụ giáo dục. 1  Dịch vụ môi trường: dịch vụ thoát nước, vệ sinh và xử lý chất thải.  Dịch vụ tài chính: Bảo hiểm trực tiếp, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và các dịch vụ bảo hiểm hỗ trợ khác; Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, kể cả các dịch vụ liên quan đến chứng khoán, cung cấp thông tin tài chính và quản lý tài sản.  Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội.

 Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành.  Dịch vụ giải trí, văn hóa và thể thao.  Dịch vụ vận tải: dịch vụ vận tải đường biển, đường sông, đường bộ, vận tải đường ống, vận tải da phương thức, các dịch vụ hỗ trợ cho tất cả các phương thức vận tải.  Các dịch vụ khác: gồm bất kỳ các loại dịch vụ nào chưa nêu ở trên.

Thẩm định giá 1. Khái niệm TĐG Theo từ điển Oxford: “TĐG là sự ước tính giá trị bằng tiền của một vật, một tài sản” .Seabrooke-Viện đại học Portsmouth, Vương quốc Anh: “TĐG là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”. Theo ông Fred Peter Marrone – Giám đốc marketing của AVO, Úc: “TĐG là việc xác định giá trị của một bất động sản tại một thời điểm có tính đến bản chất của bất động sản và mục đích của TĐG. Do vậy, TĐG là áp dụng các dữ liệu của thị trường, mà các thẩm định viên thu thập được so sánh và phân tích chúng, sau đó so sánh với tài sản được yêu cầu TĐG để hình thành giá trị của chúng”.

Theo GS Lim Lan Yuan – Singapore: “TĐG là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”. Theo Pháp lệnh Giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 năm 2002 của Việt Nam thì: “TĐG là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị 1 trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”. Từ các phân tích trên, có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về TĐG: “TĐG là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị của tài sản (quyền tài sản) phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế hoặc quốc gia”. Mối quan hệ giữa TĐG và kiểm toán Kiểm toán có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa, tùy theo mỗi quốc gia, mỗi hiệp hội, mỗi nhóm chuyên giá nghiên cứu lại có những phát biểu khác nhau về kiểm toán.

Các chuyên gia giáo dục và đào tạo kiểm toán của Cộng hòa Pháp định nghĩa kiểm toán như sau: “kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản hàng năm của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”. Ở Việt Nam, các nhà kinh tế có khái niệm đơn giản hơn là “kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính của các doanh nghiệp, bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật riêng của kiểm toán, do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”. Từ khái niệm về kiểm toán và TĐG, cũng như nghiên cứu quá trình thực hiện hai nghề này có thể nêu ra một số điểm giống nhau và khác nhau giữa hai DV này như sau: Sự giống nhau thể hiện ở những nội dung chính yếu sau:  Cả hai loại ý kiến được cung cấp bởi các tổ chức chuyên nghiệp độc lập được quy định ở mỗi nhà nước. Các tổ chức này thường có mối liên hệ mang tính quốc tế.

 Cả hai phương pháp luận được thừa nhận trên trường quốc tế.  Cả hai là những công cụ quyết định để sử dụng trong quản lý và mục đích khác. 1  Cả hai chấp nhận một số cách tiếp cận chung, ví dụ: sự phê chuẩn của bên thứ ba, sự thẩm tra cụ thể của các tài sản cố định, …  Trong một số trường hợp, giá trị thanh lý, các chi phí thay thế và giá trị thị trường đều được sử dụng trong cả các cam kết về kiểm toán lẫn TĐG. Sự khác nhau thể hiện ở những nội dung chính yếu sau:  Kiểm toán cho ý kiến về tính khách quan hợp lý của việc trình bày các báo cáo tài chính một cách tổng thể như lỗ và lãi, bảng cân đối của các luồng tiền mặt.

 TĐG cho ý kiến về một phần xác định của doanh nghiệp thường là về tài sản cố định hoặc tòa nhà, nhà xưởng, máy móc và thiết bị và thỉnh thoảng giá trị bản thân doanh nghiệp.  Thẩm định giá dựa trên giá thị trường tại thời điểm, địa điểm nhất định của tài sản.  Kiểm toán dựa trên chứng từ sổ sách theo đúng những chế độ, quy định của nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ