Tổng quan nghiên cứu

Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 7 tháng 11 năm 2006 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới nhưng cũng đầy thách thức đối với toàn bộ hệ thống tài chính ngân hàng. Theo lộ trình cam kết gia nhập, kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2007, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập và hoạt động bình đẳng tại thị trường nội địa. Bối cảnh này đặt các ngân hàng thương mại quốc doanh trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các định chế tài chính đa quốc gia có tiềm lực vốn khổng lồ và trình độ công nghệ vượt trội.

Là một trong bốn ngân hàng thương mại nhà nước lớn nhất Việt Nam với lịch sử 50 năm hình thành (1957 - 2007) và quy mô tổng tài sản đạt 167.693 tỷ đồng tính đến cuối năm 2006, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển dịch mô hình kinh doanh. Thực trạng hoạt động của BIDV trong giai đoạn này vẫn dựa quá nhiều vào hoạt động cấp tín dụng truyền thống cho các doanh nghiệp nhà nước và dự án hạ tầng lớn, trong khi danh mục dịch vụ phi tín dụng và dịch vụ ngân hàng bán lẻ còn nghèo nàn, tỷ trọng thu thuần từ phí dịch vụ chỉ chiếm khoảng 8,5% tổng thu nhập kinh doanh năm 2006.

Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng cung ứng dịch vụ tại mạng lưới 102 chi nhánh và 325 phòng giao dịch của BIDV giai đoạn 2002 - 2006; nhận diện các điểm nghẽn về chất lượng, công nghệ và cơ cấu dịch vụ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3,6% trong tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện đến năm 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết trung gian tài chính của các ngân hàng thương mại hiện đại, lý thuyết chất lượng dịch vụ và khung khổ pháp lý về tự do hóa thương mại dịch vụ theo Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của WTO. Trong đó, dịch vụ ngân hàng được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền tệ, huy động vốn, cấp tín dụng, thanh toán trong nước và quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, cùng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phái sinh hiện đại.

Khung phân tích vận dụng hai nguyên tắc cốt lõi của GATS là Đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN) và Đãi ngộ Quốc gia (NT), kết hợp với lộ trình mở cửa thị trường tài chính Việt Nam. Cụ thể, lộ trình cho phép chi nhánh ngân hàng nước ngoài nâng mức huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ 650% vốn pháp định năm 2007 lên 800% năm 2008, 900% năm 2009, 1.000% năm 2010 và áp dụng đối xử quốc gia hoàn toàn từ năm 2011. Bên cạnh đó, giới hạn sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được quy định tối đa ở mức 30% vốn điều lệ. Mô hình nghiên cứu làm rõ các nhân tố tác động đến năng lực cung cấp dịch vụ ngân hàng gồm: năng lực tài chính, hạ tầng công nghệ thông tin, chất lượng nguồn nhân lực, công tác tiếp thị thương hiệu và quy trình giao dịch một cửa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra thống kê bằng bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp. Bảng khảo sát được phát ra cho 130 khách hàng là cá nhân và đại diện tổ chức kinh tế đang giao dịch tại BIDV, thu về 118 phiếu phản hồi hợp lệ (tỷ lệ thu hồi đạt 90,77%). Phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng được áp dụng nhằm thu thập ý kiến đánh giá khách quan về chất lượng sản phẩm, mức độ hài lòng và nhu cầu dịch vụ mới.

Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ các báo cáo thường niên, báo cáo tài chính kiểm toán của BIDV giai đoạn 2002 - 2006, báo cáo tổng kết hoạt động tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tài liệu đối sánh từ các ngân hàng thương mại cổ phần tiêu biểu như ACB, Sacombank cùng các ngân hàng quốc tế như ANZ, Citibank. Phương pháp phân tích mô tả, so sánh tỷ trọng và phân tích chuỗi thời gian được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu nguồn thu, đánh giá biến động thị phần và xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của ngân hàng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô huy động vốn của BIDV tăng trưởng liên tục, đạt 89.724 tỷ đồng vào cuối năm 2006, tăng 32,63% so với năm 2005. Mặc dù tiền gửi không kỳ hạn tăng trưởng 56,25% trong năm 2006, nhưng cơ cấu nguồn vốn huy động vẫn mất cân đối khi tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng áp đảo từ 58% đến 66%, còn tiền gửi không kỳ hạn chỉ dao động ở mức 22% đến 26%. Điều này chứng minh tài khoản thanh toán vãng lai của khách hàng chưa được khai thác mạnh mẽ.

Thứ hai, hoạt động tín dụng đạt tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân 13,9%/năm trong giai đoạn 2002 - 2006. Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn đã giảm từ 53% năm 2001 xuống còn 41% năm 2006 nhằm cân đối với kỳ hạn nguồn vốn. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ xấu tính theo chuẩn mực phân loại nợ quốc tế ở mức 3,6% vào cuối năm 2006, cao hơn đáng kể so với các ngân hàng cổ phần đô thị. Danh mục tín dụng còn thiên về các ngành xây lắp, điện, xi măng, khai khoáng mà thiếu vắng các sản phẩm cho vay tiêu dùng cá nhân.

Thứ ba, doanh thu từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng năm 2006 đạt 474.634 triệu đồng, tăng trưởng 55,4% so với năm 2005. Trong đó, thu nhập từ thanh toán trong nước đạt 68,7 tỷ đồng (tăng 48,9%) và thanh toán quốc tế đạt 144,4 tỷ đồng (tăng 50,4%). Tuy nhiên, tỷ trọng thu thuần từ phí dịch vụ mới chỉ đóng góp 8,5% vào tổng thu nhập hoạt động thuần của BIDV, thấp hơn nhiều so với mức 12% của Ngân hàng Á Châu (ACB) và mức 30% đến 40% tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Thứ tư, dịch vụ ngân hàng hiện đại có bước chuyển biến về số lượng nhưng chất lượng chưa hoàn thiện. Số lượng thẻ ATM phát hành tăng đột biến từ 6.000 thẻ năm 2002 lên 562.000 thẻ năm 2006, số lượng máy ATM lắp đặt đạt 400 máy với hơn 21,18 triệu lượt giao dịch. Dẫu vậy, dữ liệu khảo sát 118 khách hàng cho thấy 52% đánh giá chất lượng ATM chỉ ở mức tạm được và 17% đánh giá chưa tốt do hiện tượng nghẽn mạng, hết tiền.

Thảo luận kết quả

Khi hệ thống hóa các chỉ tiêu thông qua bảng đối chiếu sản phẩm và biểu đồ cơ cấu thu nhập, sự chênh lệch về năng lực cạnh tranh giữa BIDV và khối ngân hàng thương mại cổ phần lộ rõ. Điển hình tại thị trường Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, khối ngân hàng thương mại cổ phần đã vươn lên chiếm 37,8% thị phần cho vay (đạt 82.978 tỷ đồng dư nợ), vượt qua khối ngân hàng thương mại nhà nước vốn chỉ đạt 35,5% thị phần (đạt 77.560 tỷ đồng dư nợ, sụt giảm 3,0% thị phần so với năm 2005).

Nguyên nhân chính là khối ngân hàng cổ phần đã chủ động bán cổ phần chiến lược cho đối tác quốc tế (Sacombank bán 10% cho ANZ, Techcombank bán 10% cho HSBC), từ đó tiếp nhận chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa gói tín dụng tiêu dùng và đẩy mạnh tiếp thị. Ngược lại, BIDV dù sở hữu vốn chủ sở hữu 7.626 tỷ đồng (tương đương 472 triệu USD) nhưng danh mục dịch vụ bán lẻ còn nghèo nàn. Kết quả khảo sát chỉ ra có tới 64% khách hàng nhận định dịch vụ BIDV thiếu đa dạng, 57% cho rằng tiện ích chưa cao; 63% khách hàng lựa chọn BIDV chỉ vì vị trí phòng giao dịch thuận tiện, trong khi chỉ có 35% chọn vì chất lượng dịch vụ và 32% chọn vì uy tín thương hiệu. Hơn nữa, 32% khách hàng phàn nàn về tác phong phục vụ thiếu chuyên nghiệp và 28% cho rằng thủ tục giấy tờ còn rườm rà.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm ngân hàng bán lẻ và dịch vụ ngân hàng điện tử. Khối Dịch vụ Khách hàng và Trung tâm Thẻ cần phối hợp nghiên cứu phát triển các gói tài khoản tiền gửi tích hợp đa tiện ích, mở rộng tính năng thanh toán tự động hóa đơn tiền điện, nước, cước viễn thông qua thẻ ATM. Triển khai dịch vụ Internet Banking và Phone Banking hoàn chỉnh, đặt mục tiêu nâng số lượng thẻ phát hành lên 1,5 triệu thẻ và tăng tỷ trọng thu phí dịch vụ phi tín dụng đạt mức 15% đến 20% tổng thu nhập trước năm 2011.

Thứ hai, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ và nâng cao năng lực phục vụ của đội ngũ nhân sự. Khối Quản trị Nguồn nhân lực cần chuẩn hóa quy trình giao dịch một cửa tại 100% chi nhánh, tinh gọn hồ sơ cấp tín dụng và thanh toán nhằm cắt giảm 40% thời gian chờ đợi của khách hàng. Thiết lập cơ chế đánh giá hiệu quả công việc dựa trên năng suất và mức độ hài lòng của khách hàng thay cho hình thức cào bằng, đồng thời tổ chức đào tạo kỹ năng bán hàng định kỳ hàng quý cho cán bộ giao dịch viên.

Thứ ba, tăng cường năng lực tài chính và đẩy nhanh lộ trình cổ phần hóa. Hội đồng Quản trị BIDV cần chủ động xây dựng phương án phát hành cổ phiếu tăng vốn chủ sở hữu vượt mức 15.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2007 - 2009. Tìm kiếm và lựa chọn cổ đông chiến lược nước ngoài có kinh nghiệm quản trị ngân hàng bán lẻ để nắm giữ tối đa 20% vốn điều lệ, tạo đòn bẩy tài chính và đổi mới công nghệ quản trị rủi ro nợ xấu xuống dưới 2,5%.

Thứ tư, chuẩn hóa chính sách Marketing và xây dựng bộ nhận diện thương hiệu đồng bộ. Phòng Marketing tại Hội sở chính phải đảm nhận vai trò điều phối tập trung mọi hoạt động quảng bá, loại bỏ tình trạng chi nhánh tự thiết kế tờ rơi và hình ảnh quầy giao dịch riêng lẻ. Xây dựng các chiến dịch truyền thông lớn cho những sản phẩm đặc thù, phấn đấu nâng tỷ lệ nhận biết các gói dịch vụ bán lẻ của BIDV từ mức dưới 22% lên trên 60% vào năm 2010.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban lãnh đạo và cán bộ quản trị chiến lược tại các ngân hàng thương mại. Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực tế về sự dịch chuyển thị phần giữa khối ngân hàng nhà nước, ngân hàng cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hỗ trợ xây dựng chiến lược tái cơ cấu nguồn thu và phòng ngừa rủi ro mở cửa thị trường.

Thứ hai, Chuyên viên nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) tài chính ngân hàng. Tài liệu mang lại bộ dữ liệu khảo sát thực chứng từ 118 khách hàng, giúp các chuyên viên phân tích hành vi người dùng, đánh giá các điểm hạn chế của dịch vụ ATM, tài khoản thanh toán và thiết kế các gói sản phẩm ngân hàng bán lẻ phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam.

Thứ ba, Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, cung cấp các case study thực tế về quá trình mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo cam kết GATS/WTO.

Thứ tư, Các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Các số liệu phân tích về nợ xấu 3,6%, giới hạn tỷ lệ góp vốn 30% và lộ trình dỡ bỏ hạn chế huy động vốn ngoại giúp các cơ quan quản lý đánh giá sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng nội địa, từ đó ban hành các chính sách điều hành tiền tệ và giám sát an toàn vĩ mô hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao BIDV cần cấp bách chuyển dịch sang dịch vụ ngân hàng bán lẻ sau khi Việt Nam gia nhập WTO?

Theo cam kết WTO, từ ngày 1 tháng 4 năm 2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam, mang theo ưu thế vượt trội về dịch vụ bán lẻ và công nghệ. Việc BIDV phụ thuộc vào tín dụng doanh nghiệp với tỷ lệ nợ xấu 3,6% sẽ tạo rủi ro lớn. Phát triển bán lẻ giúp phân tán rủi ro, mở rộng nguồn thu phí ổn định từ hơn 84 triệu dân.

Cơ cấu thu nhập từ phí dịch vụ của BIDV trong giai đoạn nghiên cứu bộc lộ hạn chế gì?

Thu thuần từ phí dịch vụ năm 2006 của BIDV chỉ đạt 474.634 triệu đồng, chiếm khoảng 8,5% tổng thu nhập hoạt động. Tỷ trọng này quá khiêm tốn so với mức 12% của ACB và mức 30% đến 40% tại các chi nhánh ngân hàng quốc tế, cho thấy ngân hàng chưa khai thác hiệu quả các mảng dịch vụ phi tín dụng có giá trị gia tăng cao.

Khảo sát thực tế 118 khách hàng chỉ ra điểm yếu lớn nhất của dịch vụ BIDV là gì?

Kết quả điều tra ghi nhận 64% khách hàng đánh giá danh mục sản phẩm của BIDV kém đa dạng và 57% cho rằng tiện ích chưa cao. Đáng chú ý, 63% khách hàng giao dịch chỉ vì thuận tiện địa điểm, trong khi chỉ 35% chọn vì chất lượng dịch vụ và 32% phàn nàn về tác phong phục vụ chưa chuyên nghiệp của nhân viên.

Sự thay đổi thị phần tín dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh phản ánh điều gì về áp lực cạnh tranh?

Năm 2006, thị phần cho vay của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt 37,8% (82.978 tỷ đồng), chính thức vượt qua khối ngân hàng nhà nước vốn giảm xuống còn 35,5% (77.560 tỷ đồng). Điều này phản ánh sự chậm chạp của khối ngân hàng quốc doanh trước sự linh hoạt, đổi mới công nghệ và liên kết quốc tế của khối cổ phần.

Giải pháp công nghệ nào mang tính quyết định để BIDV nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ?

BIDV cần khai thác triệt để hệ thống hiện đại hóa ngân hàng giai đoạn một do Ngân hàng Thế giới tài trợ, nhanh chóng thương mại hóa dịch vụ Internet Banking, phát triển mạng lưới 400 máy ATM sang các điểm thanh toán POS và tích hợp các lệnh trích nợ tự động định kỳ để phục vụ thanh toán bán lẻ toàn diện.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về tiến trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính ngân hàng Việt Nam theo cam kết GATS/WTO giai đoạn sau năm 2006.
  • Đánh giá sâu sắc thực trạng hoạt động của BIDV qua quy mô tổng tài sản 167.693 tỷ đồng, nhận diện điểm nghẽn phụ thuộc tín dụng và tỷ trọng thu phí dịch vụ thuần mới đạt 8,5%.
  • Lượng hóa chính xác mức độ thỏa mãn của khách hàng thông qua khảo sát thực chứng 118 mẫu, chỉ rõ 64% khách hàng xem dịch vụ thiếu tính đa dạng.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện từ tăng vốn chủ sở hữu vượt 15.000 tỷ đồng, cổ phần hóa, đến tái cấu trúc quy trình giao dịch một cửa và nâng cấp công nghệ ngân hàng điện tử.
  • Xác định lộ trình triển khai quyết liệt giai đoạn 2007 - 2011 nhằm giúp BIDV bảo vệ thị phần, nâng cao tỷ suất sinh lời và khẳng định vị thế ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam.

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc, là tài liệu tham khảo không thể thiếu cho các nhà quản trị ngân hàng, chuyên gia phân tích tài chính và học viên nghiên cứu về đổi mới dịch vụ ngân hàng trong kỷ nguyên hội nhập.