phần mở đầu, phần kết luận, luận văn có 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển CTT Chƣơng 2: Thực trạng phát triển CTT Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 2022. Chƣơng 3:Định hƣớng và giải pháp phát triển CTT Thanh Hóa đến năm 2030. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CỰC TĂNG TRƢỞNG 1.Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Một số công trình nghiên cứu về cực tăng trưởng ở Việt Nam Vận dụng quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tƣ bản do V.I Lenin đề xuất năm 1915 vào lĩnh vực kinh tế, năm 1950, nhà kinh tế học ngƣời Pháp Francois Perroux đã đƣa ra lý thuyết “Cực tăng trƣởng”.
Lý thuyết này đã nhanh chóng đƣợc nhiều quốc gia vận dụng và thực sự các CTT đã trở thành những động lực để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế các quốc gia. Chiến lƣợc CTT đƣợc coi là một giải pháp để hồi sinh sự suy thoái, khuyến khích sự tập trung khu vực, điều chỉnh hệ thống đô thị quốc gia và đạt đƣợc sự cân bằng giữa các vùng [23]. Tại Việt Nam, những quan tâm nghiên cứu về cực tăng trƣởng đƣợc thể hiện trên nhiều hình thức khác nhau: Trên trang google. Tra cứu trên trang google.com vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 11-11-2022, chúng tôi thu đƣợc kết quả sau: Trong tiếng Anh, số lần xuất hiện của cụm từ "Growth Pole" là 174.000, cụm từ "Growth Pole Theory" là 30.700 và cụm từ "Theory of Growth Poles" là 21.000 lần, “Development pole” có 42.300 lần, “Development Pole Theory” có 1.250 lần và “Theory of Development Poles” có 3.
Trong tiếng Việt, số lần xuất hiện của cụm từ “Cực tăng trƣởng” là 658.000 lần và cụm từ “Lý thuyết cực tăng trƣởng” là 441 lần, “Cực phát triển” có 277.000 lần, “Lý thuyết cực phát triển” có 411 lần. Điều này chứng tỏ rằng: từ CTT đƣợc sử dụng rộng rãi hơn từ “Cực phát triển” cả trong tiếng Anh lẫn tiếng Việt; CTT và lý thuyết CTT đƣợc các quốc gia trên thế giới rất quan tâm, còn ở Việt Nam chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Trên các sách, tạp chí. Một số tác giả đã đề cập đến lý thuyết cực tăng trƣởng nhƣng không đề cập đến thực tiễn phát triển CTT ở Việt Nam nhƣ Ngô Doãn Vịnh (2003), Nguyễn Minh Tuệ (2005), Ngô Thúy Quỳnh (2010).
7 Trong giáo trình Địa lý kinh tế-xã hội đại cƣơng (2015), Lê Văn Trƣởng cho rằng “Việc phát hiện và thúc đẩy sự hình thành nhanh của các vùng động lực, tuyến lực và các cực phát triển là nhiệm vụ vô cùng quan trọng” vì chúng chính là khung sƣờn của vùng kinh tế [19; 393]. Ông cũng đã quan niệm về tam giác tăng trƣởng. “Có thể hiểu chúng bao gồm một khu vực có từ 3 cực phát triển trở lên đƣợc thống nhất với nhau bởi mối liên hệ qua lại với nhau và với các lãnh thổ nằm trong phạm vị của các cực ấy” [19; tr. Năm 2012, Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ và Bộ Công Thƣơng đã mời Tổ chức hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) đã tiến hành Dự án nghiên cứu hỗ trợ xây dựng CTT tại miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam [36].
Dự án này đã tập trung phân tích 6 khía cạnh sau: i) Thông tin cơ bản cho các trƣờng hợp đầu tƣ bao gồm: các kế hoạch có liên quan, khung pháp lý, các cơ quan liên quan, ƣu đãi, hạ tầng, tình trạng lao động, điều kiện đời sống công nhân, xu hƣớng đầu tƣ ; ii) Vai trò và ƣu thế so sánh hiện tại của các vùng phía Bắc, miền Trung và miền Nam bao gồm Hải Phòng, Bà Rịa Vũng Tàu, Nghệ An, Huế và Đà Nẵng ; iii) Điều kiện của các KKT, KCN, phát triển đô thị, điều kiện nhà ở cho ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời lao động địa phƣơng, các cƣ dân hoạt động do tƣ nhân hoặc các tổ chức công cộng, điều kiện tự nhiên ; iv) Mức độ cần thiết của KKT và KCN; v) Các hình thức để thúc đẩy phát triển ở Hải Phòng, Bà Rịa Vũng Tàu, Nghệ An, Huế và Đà Nẵng và vai trò cần thiết của KKT và KCN; vi) Nhu cầu triển vọng và hƣớng tƣơng lai của KKT và KCN Cuối năm 2022, trong tham luận “Quan điểm của Đảng ta về cực tăng trƣởng”, các tác giả Lê Văn Trƣởng, Lê Hữu Khuê và Nguyễn Thị Lan đã trình bày quan điểm của Đảng ta về CTT. Cụ thể Đảng ta đã sử dụng khái niệm CTT với nhiều tên gọi khác nhau, xác định các ngành/lĩnh vực động lực trong mỗi CTT, coi nội hàm của CTT là cực phát triển, phân biệt các cấp của CTT, coi trọng liên kết giữa các CTT với các địa phƣơng và các hình thức tổ chức lãnh thổ kinh tế khác và chỉ đạo để hình thành các giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của các CTT. Tham luận cũng kiến nghị trong bối cảnh của Việt 8 Nam hiện nay cần: Đƣa khái niệm và nội hàm của CTT, cực phát triển vào các văn bản pháp quy nhƣ: Luật quy hoạch, Nghị định hƣớng dẫn thi hành Luật quy hoạch; vào các quy hoạch tổng thể, chiến lƣợc phát triển đất nƣớc, vùng và cấp tỉnh. Thống nhất nhận thức CTT chính là cực phát triển.
Phát triển một số CTT cấp vùng tại Tây Bắc, Việt Bắc và Tây Nguyên [22]. Dựa vào lý thuyết CTT và điều kiện thực tế ở Việt Nam, Lê Văn Trƣởng [23] đã lựa chọn 8 chỉ số xác định các CTT gồm: mật độ kinh tế, chỉ số Herfindahl-Hirschman, phân cực, tỷ trọng hàng xuất khẩu, tỷ trọng đầu tƣ nƣớc ngoài, chuyển đổi số, thu ngân sách nhà nƣớc và thu nhập bình quân đầu ngƣời. Tác giả đã sử dụng 8 chỉ số này để xác định các CTT ở Việt Nam. Kết quả, ở Việt Nam hiện nay có 2 CTT cấp quốc gia là TP Hồ Chí Minh và Thủ đô Hà Nội; 06 cực cấp vùng là Hải Phòng, Bình Dƣơng, Đồng Nai, Thanh Hóa, Quảng Ninh và Bắc Ninh; 06 địa phƣơng có triển vọng trở thành CTT cấp vùng trong 5-10 năm tới là Bắc Giang, Thái Nguyên, Long An, Bà Rịa- Vũng Tàu, Nghệ An và Hải Dƣơng.
Để các CTT và các CTT tiềm năng phát triển bền vững, các cấp quản lí cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt là thực hiện các chính sách đặc thù và tăng cƣờng thu hút đầu tƣ FDI. Có thể nói đây là nghiên cứu đầu tiên về CTT ở nƣớc ta. Năm 2022, Lê Văn Trƣởng và Lê Thị Quỳnh đã có tham luận về “đề xuất một số cơ chế, chính sách phát triển liên vùng trong việc thu hút đầu tƣ kết cấu hạ tầng và phát triển các ngành kinh tế vùng Bắc Trung Bộ, Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng”. Tham luận này đã nhấn mạnh tới vai trò của cơ chế, chính sách trong việc phát triển liên kết vùng, đây cũng là những giải pháp quan trọng để phát triển CTT Thanh Hóa trong những năm tới [21].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về CTT ở nƣớc ta còn mỏng, chủ yếu mới đề cập tới khía cạnh lý thuyết. Tổng quan các công trình nghiên cứu về CTT Thanh Hóa Nghiên cứu về CTT Thanh Hóa cũng không nhiều và chủ yếu mới đƣợc khởi động trong những năm gần đây. Sách Địa chí Thanh Hóa tập I (1994) đã trình bày và đánh giá tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn của Thanh Hóa làm cơ sở để hình 9 thành các ngành dẫn đầu là năng lƣợng, du lịch, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Giáo trình Địa lý Thanh Hóa (2002) của Lê Văn Trƣởng cũng đã phân tích nguồn lực và sự phát triển một số ngành kinh tế trọng điểm của Thanh Hóa là nông nghiệp, công nghiệp [19].
Sách địa chí Thanh Hóa tập 3 (2010), đã trình bày tình hình phát triển và phân bố một số ngành kinh tế trọng điểm của Thanh Hóa từ thời Pháp thuộc đến năm 2010 gồm nông nghiệp, công nghiệp, năng lƣợng….[15] Để Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 58-NQ-TW về xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong các năm 2019 và 2020, tỉnh Thanh Hóa đã xây dựng đề án, tổ chức các hội nghị, hội thảo với nhiều bài tham luận có giá trị nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho nghị quyết này. Chẳng hạn, năm 2020, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa đã tích cực triển khai nghiên cứu và xây dựng Đề án “Xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Một số tác giả cũng có các tham luận tốt nhƣ; Dƣơng Đình Giám có tham luận (2020): “Phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, thực trạng và giải pháp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” [8]; Phạm Trung Lƣơng (2020) có tham luận: “Đẩy mạnh phát triển du lịch Thanh Hóa đến năm 2030, tạo tiền đề để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở giai đoạn 2031-2045 [10]; Nguyễn Hồng Sơn (2020) “Quan điểm và giải pháp lớn phát triển tỉnh Thanh Hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” [11]. Chƣơng trình hành động của Tỉnh Thanh Hóa thực hiện nghị quyết 58/NQ TW của Bộ chính trị.
Đáng chú ý là Lê Hữu Khuê và Nguyễn Thị Lan (2022) đã công bố kết quả nghiên cứu “Xác định các cực tăng trƣởng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” và đã xác định đƣợc 02 CTT là TP Thanh Hóa và TX Nghi Sơn, 02 CTT tiềm năng là TP Sầm Sơn và TX Bỉm Sơn [9]. Đây là một nội dung quan trọng cấu thành bản Luận văn này. Những nghiên cứu trên đây giúp tác giả lựa chọn và tổng quan đƣợc những cơ sở lý luận và thực tiễn về CTT để vận dụng cho địa bàn nghiên cứu. Cơ sở lí luận phát triển cực tăng trƣởng 1.
Một số khái niệm Cực tăng trưởng. Vào năm 1949 Francois Perroux, ngƣời Pháp đã cho rằng “tăng trƣởng không xuất hiện ở mọi nơi cùng một lúc; nó thể hiện ở các điểm hoặc 'cực' của tăng trƣởng, với cƣờng độ thay đổi; nó lan truyền theo các kênh khác nhau với các hiệu ứng đầu cuối thay đổi đối với toàn bộ nền kinh tế ”. Từ điển Địa lý Nhân văn [27], định nghĩa cực tăng trƣởng kinh tế (EGP) nhƣ sau: “Một tập hợp các ngành năng động và có tính tổng hợp cao, thƣờng đƣợc tạo bởi nhà nƣớc, tổ chức xung quanh một lĩnh vực hoặc ngành hàng đầu thúc đẩy. EGP nhằm mục đích tạo ra tăng trƣởng nhanh chóng và phổ biến điều này thông qua các hiệu ứng lan tỏa và theo cấp số nhân đến phần còn lại của nền kinh tế”.