phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển công nghiệp. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng về phát triển công nghiệp tại tỉnh Lai Châu giai đoạn 2011-2015. Giải pháp phát triển công nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về công nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt: “Công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lƣợng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm.63] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm đƣợc "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, đƣợc sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật”.209] Nhƣ vậy, nội hàm của khái niệm về công nghiệp nhƣ sau: Một là, công nghiệp là ngành sản xuất vật chất, tạo ra sản phẩm và của cải cho xã hội. Nghĩa là công nghiệp tạo ra giá trị tăng thêm và thúc đẩy sự tăng trƣởng, phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, công nghiệp là ngành kinh tế tạo ra giá trị và giá trị tăng thêm thông qua các hoạt động nhƣ khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến các nguyên, nhiên liệu thành các sản phẩm công nghiệp và các hoạt động sửa chữa công nghiệp. Ba là, công nghiệp dƣới góc độ là các ngành kinh tế thì công nghiệp tạo ra của cải vật chất, tạo ra các sản phẩm hàng hóa phục vụ cho các ngành khác nhƣ nông, lâm, ngƣ nghiệp và phục vụ trực tiếp cho bản thân ngành công nghiệp. Bốn là, công nghiệp dƣới góc độ tiêu dùng, công nghiệp sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra của cải vật chất phục vụ cho tiêu dùng của con ngƣời, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại Hiện nay, trong nền kinh tế quốc dân, việc phân loại công nghiệp, dựa trên các tiêu chí nhƣ sau: Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: Có thể chia công nghiệp thành công nghiệp sản xuất tƣ liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tƣ liệu sản xuất; và theo đó có 2 nhóm ngành tƣơng ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Đối với các nƣớc đang phát triển, việc phân chia này rất có ý nghĩa đối với việc tính tỷ trọng nhập khẩu tƣ liệu sản xuất so với tƣ liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tế theo đuổi chiến lƣợc thay thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu. Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: Gồm công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến. Việc phân loại này có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ƣu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật - công nghệ sản xuất: Gồm những ngành có cùng đặc trƣng kỹ thuật - công nghệ, hoặc cùng phƣơng pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có cùng công dụng cụ thể tƣơng tự nhau. Cách phân chia này có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành công nghiệp dựa trên cân đối liên ngành. Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: Gồm công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Việc phân chia này có ý nghĩa trong xây dựng chính sách phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lƣợc chung của mỗi quốc gia.
Dựa vào quy mô doanh nghiệp: Có công nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ. Đây là cơ sở cho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ các loại hình doanh nghiệp phát triển công nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, nó có những đặc điểm về kinh tế, kỹ thuật và xã hội.
Đặc điểm kinh tế: là ngành kinh tế chủ lực trong nền kinh tế quốc dân, sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời. Theo mức độ phát triển đi lên của nền kinh tế, công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu của nền kinh tế và sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đặc điểm kỹ thuật: là ngành ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ, với nhiều máy móc thiết bị; công nghiệp cũng là ngành sản xuất ra tƣ liệu sản xuất cho ngành mình và các ngành khác trong nền kinh tế. Đặc điểm xã hội: là ngành có mức độ xã hội hóa cao, lực lƣợng lao động công nghiệp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tính tổ chức - kỷ luật cao.
Công nghiệp càng phát triển, tính chuyên môn hóa cũng sẽ phát triển tƣơng ứng, do vậy tính xã hội hóa và quốc tế hóa trong sản phẩm công nghiệp là phổ biến. Nội dung phát triển ngành công nghiệp 1. Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập đạt đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm) của một quốc gia (hoặc địa phƣơng). Sự gia tăng này đƣợc biểu hiện ở quy mô và tốc độ.
Tăng trƣởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trƣởng) hoặc số tƣơng đối (tỷ lệ tăng trƣởng). Quy mô tăng trƣởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trƣởng đƣợc sử dụng với ý nghĩa so sánh tƣơng đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Để đánh giá tốc độ tăng trƣởng hằng năm của công nghiệp ngƣời ta xác định tốc độ tăng trƣởng của nền sản xuất công nghiệp dựa vào khối lƣợng sản phẩm sản xuất, toàn bộ doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các sản phẩm chủ yếu do tính sản xuất đều tham gia vào tính toán tốc độ tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trƣởng. Trong quá trình phát triển của công nghiệp, tốc độ tăng trƣởng của công nghiệp không ngừng tăng lên và chỉ tiêu này phải đƣợc duy trì ở tốc độ cao.
Nhƣng khi nền công nghiệp đã phát triển cao thì việc tạo ra đƣợc 1% giá trị gia tăng sẽ khó khăn hơn. Mô hình tăng trƣởng: Lựa chọn mô hình tăng trƣởng sao cho vừa thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tăng nhanh thu nhập, cải thiện đời sống dân cƣ, vừa giải quyết đƣợc vấn đề xã hội và bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Đổi mới mô hình tăng trƣởng kinh tế là việc xác lập khung khổ chung, hay mô thức chung định hƣớng vận hành nền kinh tế trên cơ sở tối ƣu hóa các nguồn lực của quốc gia với một cơ cấu nền kinh tế hợp lý, hiệu quả, hiện đại, nhằm đạt tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao theo hƣớng phát triển bền vững. Mô hình tăng trƣởng kinh tế gồm: tăng trƣởng theo chiều rộng, theo chiều sâu và kết hợp chiều rộng với chiều sâu.
- Mô hình tăng trƣởng theo chiều rộng dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, thâm dụng lao động, phụ thuộc quá nhiều vào vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, năng suất lao động thấp, hiệu quả đầu tƣ không cao, nghĩa là chất lƣợng tăng trƣởng thấp. - Mô hình tăng trƣởng theo chiều sâu là dựa vào khoa học và công nghệ hiện đại, nâng cao hiệu quả, chất lƣợng của tăng trƣởng, nhƣ: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng năng suất lao động, nâng cao sự đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp, hƣớng hoạt động của nền kinh tế vào các ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí sản xuất, chủ động sản xuất và xuất khẩu hàng hóa có hàm lƣợng công nghệ cao, trên cơ sở khai thác triệt để các lợi thế của đất nƣớc. Tăng trƣởng theo chiều sâu không chỉ nâng cao chất lƣợng, hiệu quả nền kinh tế, mà còn gắn với bảo vệ môi trƣờng sinh thái, cải thiện phúc lợi xã hội. Cơ cấu ngành công nghiệp phân theo ngành kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển cơ cấu ngành kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lao động xã hội và phù hợp với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, phát triển khoa học- công nghệ.
Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự thay đổi cả về lƣợng và chất trong nội bộ cơ cấu ngành. Việc chuyển dịch cơ cấu này phải dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu ngành là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chƣa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến hoàn thiện và phù hợp hơn. Chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp biểu hiện dƣới mặt lƣợng là sự thay đổi mối tƣơng quan tỉ lệ của mỗi phân ngành trong công nghiệp. Sự thay đổi đó biểu hiện ở một trong hai yếu tố: số lƣợng ngành thay đổi hoặc mối tƣơng quan tốc độ phát triển giữa các ngành có sự thay đổi.
Về mặt chất sự chuyển đổi cơ cấu ngành thể hiện ở sự thay đổi phƣơng án bố trí các ngành trong chiến lƣợc phát triển và vị trí từng phân ngành trong cơ cấu làm thay đổi tính cân đối cũ để chuyển sang một trạng thái cân đối mới ở trình độ cao hơn. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp Giá trị sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp tạo ra dƣới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ trong thời gian nhất định, thƣờng là một năm. Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm: Giá trị của nguyên vật liệu, năng lƣợng, phụ tùng thay thế, chi phí dịch vụ sản xuất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động, thuế sản xuất và giá trị thặng dƣ tạo ra trong cấu thành giá trị sản phẩm công nghiệp.