Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA SỰ HÌNH THÀNH EWEC 1. Cơ sở lý luận Hành lang Kinh tế Đông - Tây (East - West Economic Corridor - EWEC) là sáng kiến đƣợc nêu ra vào năm 1998 tại Hội nghị Bộ trƣởng Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng lần thứ tám tổ chức tại Manila (Philippines). Hành lang dựa trên một tuyến giao thông đƣờng bộ dài 1.450 km, có cực Tây là thành phố cảng Mawlamyine (Myanmar), đi qua bang Kayin (Myanma), các tỉnh: tỉnh Tak, tỉnh Sukhothai, tỉnh Kalasin, tỉnh Phitsanulok, tỉnh Khon Kaen, tỉnh Yasothon, tỉnh Mukdahan (Thái Lan), Savannakhet (Lào), Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và cực Đông là thành phố Đà Nẵng (Việt Nam). Hành lang sẽ giúp vùng Đông Bắc của Thái Lan và Lào tiếp cận với Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng.
Hành lang này còn kết nối với các tuyến giao thông Bắc - Nam nhƣ Yangon - Dawei của Myanmar, Chiang Mai - Bangkok của Thái Lan, quốc lộ 13 của Lào, và quốc lộ 1A của Việt Nam. EWEC ra đời nhằm tăng cƣờng hơn nữa hợp tác kinh tế và xúc tiến thƣơng mại, đầu tƣ và phát triển giữa 4 quốc gia trên hành lang; tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, lƣu thông hàng hóa, nguyên vật liệu và đi lại của con ngƣời; hỗ trợ cho các khu vực nông thôn và biên giới, nâng cao thu nhập, tạo thêm cơ hội việc làm cho nhóm ngƣời có thu nhập thấp; phát triển du lịch, công nghiệp và nông nghiệp. Ngoài ra, EWEC còn là môi trƣờng thử nghiệm cho chính sách kinh tế mới, đặc biệt là ở Myanmar, Lào và Việt Nam. Đồng thời là sợi dây liên kết để thay đổi đời sống đói nghèo, hạn chế về sự phát triển công nghiệp của các địa phƣơng dọc hành lang.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chiến lƣợc phát triển của EWEC đã tạo ra cơ hội lớn cho các quốc gia tiếp cận tốt hơn nguồn tài nguyên khoáng sản, hải sản và năng lƣợng phục vụ cho các ngành sản xuất và chế biến; phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa cho các thành phố, thị trấn nhỏ dọc hành lang, phát triển thƣơng mại xuyên biên giới, thu hút đầu tƣ tại chỗ, khu vực và thế giới, phát triển các hoạt động kinh tế mới, tiến đến việc hình thành các khu vực kinh tế xuyên quốc gia; tạo điều kiện cho luồng hàng hóa các nƣớc GMS thâm nhập vào các thị trƣờng đầy tiềm năng của các nƣớc thuộc khu vực Nam Á và Tây Á. Ba lý do chính EWEC ra đời: Thứ nhất, đẩy mạnh hợp tác kinh tế giữa các địa phƣơng của bốn nƣớc dọc theo EWEC. Tạo thuận lợi cho thƣơng mại, đầu tƣ và phát triển kinh tế. Thứ hai, giảm chi phí vận tải tại các địa phƣơng dọc theo EWEC, giúp cho việc vận chuyển hàng hóa và hành khách đạt hiệu quả cao hơn.
Thứ ba, góp phần xóa đói, giảm nghèo tại các địa phƣơng dọc theo EWEC. Dự kiến, EWEC sẽ có những tác động về thƣơng mại chủ yếu tập trung ở sáu địa phƣơng gồm Mawlamyine, Phitsanulok, Khon Kaen, Savannakhet, Huế, và Đà Nẵng nhƣng nhiều thị trấn thuộc các địa phƣơng EWEC chạy qua cũng sẽ nhận đƣợc những tác động kinh tế tích cực. Các khu vực mà EWEC đi qua nói chung còn kém phát triển; kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ đạo. EWEC qua kết nối với các trục giao thông Nam - Bắc sẽ giúp các khu vực trên tiếp cận dễ dàng hơn với các trung tâm kinh tế ở phía Bắc và phía Nam nhƣ Bangkok, Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Bên cạnh đó EWEC còn mở đƣờng ra biển cho các khu vực trên, cung cấp hải sản cho họ và giúp họ đem các sản phẩm nông-lâm nghiệp của mình đi tiêu thụ. Nhờ phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc và năng lƣợng, các khu vực sẽ có thêm nhiều cơ hội phát triển, trong đó đầu tƣ tƣ nhân là quan trọng nhất. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù ra đời từ năm 1998, nhƣng phải đến năm 2006, khi cầu Hữu Nghị 2 bắc qua sông Mekong nối tỉnh Mucdahan (Thái Lan) với Savanakhet (Lào) đƣợc khánh thành, EWEC mới chính thức thông tuyến nối liền 7 tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan, qua Savannakhet - Lào với 3 tỉnh miền Trung của Việt Nam (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng). Từ đó đến nay, hàng loạt chính sách cấp Chính phủ đã đƣợc triển khai ở 3 nƣớc Việt Nam - Lào - Thái Lan về hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua tuyến EWEC; chính sách vận tải hàng quá cảnh; thủ tục kiểm tra hải quan cửa khẩu; giao thông tay lái nghịch; chính sách cƣ dân vùng biên giới… Thậm chí nhiều khu kinh tế cửa khẩu hình thành trên tuyến hành lang kinh tế này nhƣ Khu kinh tế thƣơng mại đặc biệt Lao Bảo (Việt Nam), Densavan (Lào), các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan còn đƣợc hƣởng nhiều chính sách hết sức cởi mở.
Đây, đƣợc xem là mô hình kinh tế thông thoáng nhất để giúp EWEC trở thành mô hình kinh tế kiểu mẫu của GMS. Có hai cơ chế hợp tác kinh tế khu vực chủ yếu: chính thức và không chính thức. Cơ chế chính thức bao gồm các hình thức nhƣ Khu vực mậu dịch tự do (FTA), thị trƣờng chung (kiểu liên minh châu Âu), liên minh thuế quan (kiểu liên minh Nga - Belarus)… Cơ chế không chính thức bao gồm các hình thức nhƣ Tam giác phát triển, Khu vực tự do xuyên quốc gia… Trong đó cơ chế không chính thức có một số đặc thù nhƣ chỉ bao gồm các vùng (địa phƣơng) thuộc các nƣớc khác nhau chứ không bao gồm thực thể quốc gia. Các thành viên duy trì quan hệ thƣơng mại và đầu tƣ với thị trƣờng bên ngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất và đầu tƣ với thị trƣờng bên ngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất nhƣng gián tiếp cắt giảm các biện pháp thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự do hóa thƣơng mại đầu tƣ giao thông, nhập cƣ; thúc đẩy sự phát triển tại khu vực biên giới của các nƣớc thành viên… Hành lang kinh tế còn có 3 điểm khác biệt: Thứ nhất, hành lang là một khu vực địa lý 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xác định; Thứ hai, hành lang kinh tế nhấn mạnh các sáng kiến song phƣơng hơn là các sang kiến đa phƣơng; Thứ ba, hành lang kinh tế đòi hỏi phải có sự quy hoạch cụ thể để tập trung phát triển hạ tầng và đạt đƣợc những hiệu quả thiết thực nhất.
Vậy, EWEC đƣợc hình thành dựa trên cơ sở lý luận gì? 1. Lý luận về hợp tác khu vực Có ý kiến cho rằng, hợp tác khu vực bắt nguồn từ sự chia sẻ về tầm nhìn và cao hơn là ý thức hệ, giá trị giữa các quốc gia thành viên, ví dụ nhƣ Tổ chức Hiệp ƣớc Bắc Đại Tây Dƣơng (NATO) trƣớc đây. Ý kiến khác cho rằng, lợi ích kinh tế mới quyết định, keo dính là tài nguyên thiên nhiên nhƣ Tổ chức các nƣớc xuất khẩu dầu lửa (OPEC) hay thƣơng mại nhƣ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP). Cũng có tập hợp dựa trên cấu trúc quyền lực.
Điều này không hoàn toàn trừu tƣợng, trƣớc hết do sự chi phối của nguyên tắc "cân bằng quyền lực". Một số nƣớc tìm tới ô an ninh của nƣớc lớn. Liên minh Hiệp ƣớc an ninh Thái Bình Dƣơng (ANZUS) trƣớc đây hay Tổ chức hợp tác Thƣợng Hải (SCO) chống khủng bố ngày nay đều có lý do an ninh, dựa trên một mối đe dọa chung, thực tế hay theo nhận thức. Nhƣng cũng có nhiều tổ chức khu vực đều xuất phát từ sự gần gũi về địa lý nhƣ Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh châu Phi (AU)… đều là những thể chế nhƣ vậy và ngay cả tên gọi cũng đã nói lên điều đó.
Sự gần gũi về địa lý đã đem đến nhiều điều kiện quan trọng để các quốc gia thành viên tăng cƣờng hợp tác. Đồng thời, sự tƣơng đồng về văn hóa thƣờng dễ xảy ra hơn giữa các quốc gia cùng châu lục, khu vực, tiểu khu vực. Bên cạnh đó, giao thông, kết nối cơ sở hạ tầng cũng thuận tiện. Nhƣ vậy, sự tƣơng đồng lợi ích, ý chí chính trị, hay các yếu tố kỹ thuật khác cũng đóng vai trò quan trọng không kém yếu tố địa lý trong quá trình thành lập và mở rộng các tổ chức khu vực.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Lý luận vai trò của giao thông trong hợp tác khu vực Giao thông ngày càng đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế không chỉ ở một đơn vị lãnh thổ mà còn của cả một khu vực. Nếu một khu vực có hệ thống giao thông hiện đại sẽ giúp góp phần giải quyết tốt một phần nhất định vấn đề lƣu thông dƣới góc độ vận chuyển, chuyên chở con ngƣời, hàng hóa, thông tin hay các vật thể có liên quan phục vụ cho phát triển kinh tế. Nếu khu vực có một hệ thống giao thông hiệu quả thì khu vực đó sẽ có nhiều cơ hội phát triển nhƣ mở rộng thị trƣờng, thu hút nhiều đầu tƣ từ bên ngoài.
Nhìn chung, tác động của giao thông đến phát triển kinh tế theo hai cách: Tác động trực tiếp: Giao thông trực tiếp giúp mở rộng thị trƣờng; giảm thiểu các chi phí và đem lại nhiều cơ hội hợp tác nhiều hơn từ bên ngoài. Tác động gián tiếp: Hệ thống giao thông hiệu quả sẽ giúp phân phối hàng hóa kịp thời đến ngƣời tiêu dùng với giá cạnh tranh hơn. Ngƣời tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn khi quyết định chi tiêu vì sự đa dạng của các chủng loại hàng hóa. Một hệ thống giao thông hiệu quả sẽ giúp phân công lao động và thực hiện chuyên môn hóa sản xuất giữa các khu vực địa lý tốt hơn nhằm khai thác hiệu quả đƣợc lợi thế cạnh tranh của từng khu vực.
Do đó, việc phân bổ nguồn lực của nền kinh tế sẽ đạt hiệu quả hơn. Để xem xét một hệ thống giao thông có đạt hiệu quả hay không có thể dựa vào một số tiêu chí sau: • Mạng lưới: Thiết lập mới các lộ trình giao thông hoặc nâng cấp lộ trình đang có để kết nối các chủ thể hay khu vực kinh tế lại với nhau. • Hiệu quả: Cải thiện chi phí và thời gian vận chuyển khách hàng hay hàng hóa. • Độ tin cậy: Cải thiện hiệu quả thời gian thực hiện, đặc biệt là tính đúng giờ cũng nhƣ làm giảm lỗ lãi hoặc thiệt hại.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.