CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công nghiệp và ngành công nghiệp Theo Lyonell Fliss (1999), “Côn n hiệp là một trong nhữn lĩnh vực hoạt động của con n ười, thông qua quá trình chế biến nguyên liệu thô cho ra những hàng hóa có giá trị hơn với mục đích thỏa mãn nhu cầu vật chất của xã hội và tạo ra của cải” Công nghiệp là quá trình sử dụng nguyên liệu thô hoặc các phần riêng lẻ, thông qua việc sử dụng công cụ, sức lao động của con n ười, máy móc, hóa chất để chế biến trở thành hàng hóa thành phẩm có giá trị cao hơn (Will Kenton, 2021). Công nghiệp là ngành kinh tế có vai trò then chốt trong sản xuất ra các loại tư liệu lao độn , đáp ứng các nhu cầu của đời sống và sản xuất, phát triển khoa học công nghệ của nền kinh tế quốc dân (Nguyễn Đình Phan, N u ễn Kế Tuấn, 2000).
Do đó, côn n hiệp là một hệ thốn n ành và lĩnh vực chủ đạo của nền kinh tế, khai thác và chế biến tài nguyên, các sản phẩm nông nghiệp để cho ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, sửa chữa máy móc thiết bị và vật phẩm phục vụ cho xã hội. Ngành công nghiệp cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năn thay thế nhau, n hĩa là cun cấp các sản phẩm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng gần như giống nhau của khách hàng (Micheal Porter, 1979). Định n hĩa nà nêu lên vai trò của ngành công nghiệp là sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho xã hội. Theo đó, một ngành công nghiệp là nhóm các công ty sản xuất hoặc cung cấp những sản phẩm có các thuộc tính giốn nhau đến mức họ cạnh tranh giành những nhóm khách hàng có nhu cầu tiêu dùng giống nhau (Thompson và Strickland, 1986).
Phân loại ngành công nghiệp 11 Có nhiều cách phân loại công nghiệp, như: - Theo mức độ thâm dụng vốn và tập trung lao động: Công nghiệp nặng (công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất) và công nghiệp nhẹ (công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng). Nếu sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu sản xuất vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thì việc xếp doanh nghiệp sản xuất sản phẩm này vào nhóm công nghiệp nặng hay công nghiệp nhẹ tùy vào tỷ trọng nhu cầu nào mà sản phẩm đó đáp ứng nhiều hơn. - Theo phân cấp quản lý: công nghiệp địa phươn , côn n hiệp trun ươn - Theo mức độ tổng quát ngành công nghiệp được chia thành ba loại ngành nghề: + Nhóm ngành công nghiệp khai thác gồm: Khai thác than, khai thác khí và dầu mỏ, khai thác quặng kim loại, khai thác đá và mỏ khác. + Nhóm ngành công nghiệp chế biến gồm: Sản xuất đồ uống, sản xuất sản phẩm từ gỗ và lâm sản, sản xuất máy móc thiết bị, sản xuất sản phẩm dệt,.
+ Nhóm ngành công nghiệp sản xuất và phân phối khí điện, khí đốt, nước gồm: Sản xuất và phân phối điện, ga; sản xuất và phân phối nước. Đặc điểm của ngành công nghiệp Đặc điểm của ngành công nghiệp là quá trình sản xuất xã hội với sự tổng hợp của mặt kỹ thuật và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất. Mặt kỹ thuật của sản xuất công nghiệp Sản xuất đón một vai trò to lớn trong xã hội hiện đại, vì nhiều thứ từ khai thác đến sản xuất tiêu dùn đều thuộc lĩnh vực kinh doanh này. Khái niệm sản xuất dựa trên ý tưởng chuyển đổi nguyên liệu thô, hữu cơ hoặc vô cơ thành các ản phẩm có thể sử dụn được cho xã hội.
Theo Will Kenton (2021), sản xuất là quá trình chế biến nguyên liệu thô hoặc các bộ phận thành hàng hóa hoàn chỉnh thông qua việc sử dụng công cụ, sức lao động của con n ười, máy móc và chế biến hóa chất. Nguyễn 12 Đình Phan, N u ễn Kế Tuấn (2000) mở rộng khái niệm sản xuất công nghiệp trong quá trình hội nhập khi áp dụng các công nghệ sản xuất, ứng dụng những thành tựu, tiến bộ khoa học công nghệ vào từng ngành để thực hiện chuyên môn hoá sản xuất sâu và hợp tác hoá sản xuất rộng. Việc áp dụng kỹ thuật sản xuất hiệu quả cho phép các nhà sản xuất tận dụng lợi thế của quy mô kinh tế, sản xuất nhiều đơn vị hơn với chi phí thấp hơn (Will Kenton, 2021). Đặc điểm của công nghiệp về mặt kỹ thuật là sự biến đổi các đối tượn lao động do sau mỗi iai đoạn của quá trình công nghệ sẽ tác độn đến các đối tượn lao động nguyên thủ để cho ra các sản phẩm trung gian rồi từ đó chế biến thành một hoặc nhiều loại sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau, phục vụ cho đời sống và sản xuất.
Tuy dù ít nhiều vẫn chịu tác động của điều kiện tự nhiên lên quá trình sản xuất công nghiệp nhưn hiện nay với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, quá trình sản xuất vẫn có thể phát triển mạnh mẽ ngay cả khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi, Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho điều này. Do đó, mặt kỹ thuật cho thấy khả năn tăn năn uất của ngành công nghiệp so với các ngành nghề khác là tươn đối cao, và vai trò chủ đạo của ngành công nghiệp trong nền kinh tế là một điều tất yếu (Nguyễn Đình Phan, N u ễn Kế Tuấn, 2000). Mặt kinh tế xã hội của sản xuất công nghiệp Sản xuất công nghiệp là một quá trình ia tăn iá trị cho phép các doanh nghiệp bán thành phẩm với chi phí cao hơn iá trị của nguyên vật liệu thô được sử dụng. Trong quá trình sản xuất, các doanh nghiệp đã chế biến các nguyên liệu thô (như quặng, gỗ, thực phẩm,…) thành các sản phẩm hoàn chỉnh (như đồ kim loại, thực phẩm chế biến,…).
Bằng cách tinh chế và chế biến nguyên liệu thô này thành một thứ hữu ích hơn, các cơ ở và doanh nghiệp đã tăn thêm iá trị. Theo Kenichi Ohno (2005), về mặt bản chất, giá trị ia tăn thường gắn liền với những quá trình sản xuất sử dụng công nghệ cao, chứ không phải với toàn bộ sản phẩm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, quá trình sản xuất với công nghệ thấp vẫn có thể mang lại 13 giá trị ia tăn và lợi nhuận cao nếu được thực hiện bằn lao động có kỹ năn và phươn thức quản trị có chất lượng cao. Giá trị ia tăn nà đã làm tăn iá thành phẩm, khiến hoạt động sản xuất trở thành một hoạt động sinh lãi, tạo ra giá trị kinh tế (Will Kenton, 2021).
Đặc điểm của công nghiệp về mặt kinh tế xã hội xuất phát từ việc công nghiệp là ngành nghề có tính xã hội hóa cao do một sản phẩm công nghiệp thường là quá trình của một chuỗi liên kết nhiều đơn vị khác nhau từ khâu thiết kế sản phẩm đến khâu phân phối tiêu thụ sản phẩm và chế độ hậu mãi, tạo thành những mắt xích ràng buộc chặt chẽ với nhau. Mối liên kết này ngày càng mở rộng từ phạm vi các đơn vị doanh nghiệp cùng ngành cùng lãnh thổ ra nhiều ngành nhiều quốc gia khác nhau, đặc biệt là trong mở cửa hội nhập như hiện nay (Nguyễn Đình Phan, Nguyễn Kế Tuấn, 2000). Vai trò của công nghiệp trong phát triển kinh tế Công nghiệp được coi là ngành dẫn đầu cho sự phát triển kinh tế. Chúng ta sẽ sản xuất hiệu quả và ia tăn được lượng việc làm thông qua việc áp dụng công nghệ mới, phân côn lao động và quản lý công việc khoa học Điều này sẽ mang lại tăn trưởng kinh tế và hình thành vốn (Pooja Mehta, 2016).
Do đó, công nghiệp đón vai trò thúc đẩy sự tăn trưởng của kinh tế vào thời kỳ tiền cất cánh của các nước đan phát triển, là một ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, vì: - Công nghiệp tăn trưởn làm ia tăn thu nhập quốc gia. - Công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế. - Công nghiệp thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp. - Công nghiệp cung cấp hàn tiêu dùn cho đời sống nhân dân.
- Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp, giải quyết việc làm cho xã hội. - Công nghiệp còn có tác dụn thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như nôn n hiệp, giao thông vận tải, thươn mại, dịch vụ và củng cố an ninh 14 quốc phòng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phát triển ngành công nghiệp 1. Khái niệm phát triển ngành công nghiệp Phát triển ngành công nghiệp thể hiện quá trình tha đổi của nền công nghiệp ở iai đoạn này so với iai đoạn trước, ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất.
Phát triển ngành công nghiệp là một phần của nền kinh tế thị trường. Tuy sự phát triển của nó được điều khiển bởi quy luật cung và cầu, nhưn ự tiến bộ của nó cũn bị tác động bởi các yếu tố khác, ví dụ như chính trị, chính sách (Lyonell Fliss, 1999). Phát triển ngành công nghiệp là sự tổng hợp đón óp của bốn nhân tố chính, đó là doanh nghiệp, công nghệ, chính phủ, các nguồn lực. Phát triển ngành công nghiệp chỉ được đánh iá là hiệu quả khi các nhân tố này có sự phối hợp chặt chẽ và tác động tươn hỗ lẫn nhau (Lyonell Fliss, 1999).
Phát triển ngành công nghiệp ngoài việc góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội còn khuyến khích phát triển cơ ở hạ tầng chung của khu vực như giao thông, cấp thoát nước, từ đó xúc tiến các ngành kinh tế khác cùng phát triển. N oài vai trò tăn trưởng kinh tế và tạo việc làm, phát triển công nghiệp còn tác động đến nhiều khía cạnh khác của kinh tế xã hội. Hành lang công nghiệp Maputo là một ví dụ rõ ràng về sự phát triển cơ ở hạ tần được tạo ra dọc theo các CNN, việc phát triển công nghiệp đã thu hút thêm ự phát triển hạ tầng và đô thị (Lyonell Fliss, 1999). Các lý thuyết về hội nhập kinh tế và phát triển ngành công nghiệp trong hội nhập quốc tế 1.
Các lý thuyết về hội nhập kinh tế Lý thuyết về hội nhập kinh tế trải qua hai iai đoạn phát triển, mỗi một giai đoạn đề cập đến bối cảnh kinh tế và chính trị phù hợp với từng thời gian của nó. Giai đoạn trước được xem là lý thuyết cổ điển, thườn được gọi là phân tích tĩnh.