CHƯƠNG 1 Trong chương này, đề tài đã đề cập những vấn đề cơ bản của lí thuyết cạnh tranh, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM trong bối cảnh hội nhập. Trên cơ sở đúc kết các khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Phần này cũng đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM. CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG Á CHÂU 2.1 Quá trình hình thành và phát triển của ACB Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1993 với vốn đều lệ ban đầu là 7 tỷ đồng.
Đến ngày 14/02/2006 vốn điều lệ của ACB là 1. Trong đó cổ đông nước ngoài nắm giữ 30%. Đến tháng 8 năm 2006, ACB có 66 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc.Tại TP Hồ Chí Minh có 25 chi nhánh và 14 phòng giao dịch; Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh) có 6 chi nhánh và 7 phòng giao dịch;Tại khu vực miền Trung (Đà Nẵng, Daklak, Khánh Hoà, Hội An, Huế) có 5 chi nhánh và 1 phòng giao dịch; Tại khu vực miền Tây (Long An, Cần Thơ, An Giang,và Cà Mau) có 4 chi nhánh; Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu): có 3 chi nhánh và 1 phòng giao dịch. Đồng thời, ACB thiết lập được 5.584 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB (31/12/2005) và 360 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union (tháng 03/2005).
Tính đến ngày 31/12/2005 tổng số nhân viên nghiệp vụ của Ngân hàng Á Châu là 2. Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 93%, thường xuyên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ. Trong 13 năm hoạt động, ACB đã có sự phát triển vượt bậc về qui mô hoạt động và kết quả kinh doanh. Năm 2005 tiếp tục là một năm thành công của ACB với sự tăng trưởng mạnh trong mọi lĩnh vực.
Tổng vốn huy động ACB tăng 56% đạt 22.332 tỷ đồng trong bối cảnh các NHTM cạnh tranh gay gắt và huy động vốn toàn ngành NH chỉ tăng 22%. Huy động từ KHDN tăng 55,1% so với 2004. Huy động tiết kiệm dân cư tăng 55,2% và chiếm 6% tổng huy động đã góp phần ổn định nguồn vốn của ACB. Tăng trưởng huy động đã nâng tổng tài sản của ACB lên 24.247 tỷ đồng, tăng 57% so với 2004, vượt chỉ tiêu 23.000 tỷ đồng đặt ra từ đầu năm.
Với qui mô tổng tài sản như vậy, ACB tiếp tục duy trì vị trí NHTM có tổng tài sản lớn nhất. Tốc độ tăng trong năm 2005 đạt 42% trong khi toàn ngành NH tăng 22,5%. Tổng dư nợ đạt 9.565 tỷ đồng, trong đó cho vay KHCN chiếm 49% và cho vay doanh chiếm 51%. Một số chỉ tiêu kinh doanh (xem bảng 2.1: Các chỉ tiêu hoạt động của ACB từ 2001-2005 (Đơn vị: tỷ đồng) Chỉ tiêu Năm Năm Năm Năm Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Tổng tài sản 7.247 Vốn huy động 6.332 Dư nợ cho vay 2.565 Lợi nhuận trước thuế 108 165 188 278 385 Suất lợi nhuận/vốn tự 22 27 25 33 30 có (ROE) % (Nguồn: Báo cáo thường niên 2005 của ACB).
Trong năm 2006, ACB tiếp tục phấn đấu phát triển nhanh để giữ vững là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam. Các chỉ tiêu hoạt động năm 2006 (xem bảng 2.2: Các chỉ tiêu hoạt động 2006 (Đơn vị: tỷ đồng) Chỉ tiêu Năm 2006 Tổng tài sản 33.000 Tiền gửi khách hàng 28.870 Dư nợ cho vay 14.500 Lợi nhuận trước thuế 555 Phát triển thêm 20 đơn vị: 10 chi nhánh và 10 Phòng giao dịch (Nguồn: Phòng tổng hợp ACB) 2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ACB.1 Phân tích môi trường bên ngoài: Để phân tích các yếu tố của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại, cần phải phân tích các yếu tố của môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.1 Môi trường vĩ mô: Môi trường chính trị: Sự ổn định về chính trị-xã hội của Việt Nam. Ngành NH là ngành hoạt động nhạy cảm với yếu tố chính trị. Sự ổn định về mặt chính trị giúp các NH Việt Nam tiếp tục phát triển ổn định.
Trong khi tình hình kinh tế thế giới có những chuyển biến phức tạp thì Việt Nam nổi lên như một điểm đến an toàn cho khách du lịch và các nhà đầu tư. Sự ổn định về mặt chính trị cũng chính là một nhân tố quan trọng kéo nguồn vốn tích lũ trong dân ngành nguồn vốn huy động của các NH. Cơ chế chính sách của Ngân hàng Nhà nước ngày càng hoàn thiện đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong đó các quy chế quy định về tín dụng; về kinh doanh ngoại hối; về tổ chức hoạt động và an toàn hệ thống đã tạo điều kiện cho các TCTD phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm và có ý thức pháp luật cao.
Sự hoàn thiện của cơ chế chính sách của NHTW theo hướng giảm dần tác động mệnh lệnh hành chính bằng tác động điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật đã tạo động lực cho các TCTD phát huy khả năng kinh doanh, tính sáng tạo, tự chủ, năng động trên cơ sở tuân thủ mọi quy định của pháp luật nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Đây chính là động lực thúc đẩy, bởi sự phù hợp với yêu cầu của các quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường. Trình độ quản lý, quản trị ngân hàng của các NHTM ngày càng cao gắn liền với khả năng kinh doanh, tính chuyên nghiệp trong kinh doanh cũng như ý thức pháp luật của các NHTM ngày càng hoàn thiện, cũng là yếu tố cơ bản góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng của các TCTD trên địa bàn. Chính kinh nghiệm quản lý, cách thức tổ chức hoạt động, trình độ quản trị kinh doanh của một số NHTM cùng với các yếu tố khác (về vốn, về hiệu quả kinh doanh; về dịch vụ …) đã tạo ra uy tín, thương hiệu ngân hàng cho một số NHTM.
Các NHTM đã dần từng bước chú ý quan tâm đến việc quản trị rủi ro, một số NHTMCP lớn đã thực hiện chiến lược quản trị và thiết lập hệ thống cảnh báo trong hoạt động. Môi trường kinh tế: Đối với Việt Nam, tăng trưởng kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, không chỉ do điểm xuất phát của nước ta còn thấp, phải tăng trưởng nhanh để chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, mà còn là tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế-xã hội khác như chống lạm phát, giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo. Với nghĩa này và với sự cố gắng vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân tăng trưởng kinh tế nước ta 2005 đã đạt nhiều vượt trội. Tăng trưởng kinh tế tiếp tục tăng cao- Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ 1991-1995 cũng đang trên đà cao và đạt đỉnh cao vào năm 1995 (9,54%), nhưng từ năm 1996, do ảnh hưởng của sự sút giảm đầu tư nước ngoài, tiếp đến là cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực 1997-1998, tốc độ tăng trưởng đã liên tục sút giảm ở mức đáy (4,77%) năm 1999.
Từ năm 2000, tăng trưởng kinh tế đã chấm dứt thời kỳ suy giảm, dần dần hồi phục trở lại, liên tục đạt tốc độ năm cao sau hơn năm trước: năm 2000 tăng 7,08%, năm 2003 tăng 7,24% năm 2004 tăng 7,7%. Bước vào năm 2005, qu í I chỉ tăng 7%, qu í II cao hơn một chút, quí III và quí IV đã có sự bức phá ngoạn mục, nên cả năm tăng 8,43%.Tuy chưa bằng tốc độ tăng của năm 1995, 1996, nhưng nếu năm 1995, 1996 tăng trưởng kinh tế đang trên đà sút giảm, thì mấy năm nay lại đang trên đà cao hơn và năm 2005 đã đạt đỉnh cao nhất so với 8 năm trước đó. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt tốc độ cao nhất so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thuộc loại cao nhất so với các nước và vùng lãnh thổ ở Châu Á cũng như trên thế giới. Tuy vậy, tổng số vốn huy động của toàn ngành ngân hàng tăng trưởng 23%, cao hơn mức 22% của năm 2004 ( TP.
Trong đó, vốn huy động VNĐ tăng 24%, chủ yếu do tiền gửi của dân cư tăng ở mức cao là 35,4% (năm 2004 tăng 20,56%), còn tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng 13,25%; vốn huy động ngoại tệ tăng 20,7%, thấp hơn mức 26% của năm 2004. Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2005 là 19%, thấp hơn mức 26,2% của năm 2004. Trong đó, tín dụng VNĐ tăng 18,22%, tín dụng ngoại tệ tăng 21,39%; tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước tăng 16%, đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế cá thể tăng từ 17-34%; tín dụng đối với các tỉnh phía Nam (từ Quảng Trị trở vào) tăng 23,4%, cao hơn tín dụng đối với các tỉnh phía Bắc tăng 13%; tín dụng của các NHTM Nhà nước tăng 13,63%; tín dụng các NHTM cổ phần tăng cao, ở mức 47,16%. Điều đó cho thấy, cơ cấu tín dụng đang dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng cho vay đối với kinh tế ngoài nhà nước.
Tỷ lệ nợ xấu được phân loại theo quy định mới đến cuối năm 2005 của toàn ngành ngân hàng xoay quanh tỷ lệ 5%. Tình hình nợ xấu vẫn có xu hướng gia tăng và tăng mạnh ở khối các NHTM Nhà nước. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng GDP và ổn định trong nhiều năm gần đây và sự tăng trưởng của ngành NH đã cải thiện rõ rệt thu nhập của người dân. Điều đó đặt nền tảng vững chắc cho triển vọng phát triển thị trường vốn vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác.
Đồng thời chủ trương phát triển kinh tế khu vực tư nhân đã tạo sự bùng nổ về số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chỉ riêng trong năm 2005 đã có 38.100 doanh nghiệp tư nhân đi vào hoạt động. Hiện nay cả nước đã có 200.000 doanh nghiệp tư nhân. Điều này tạo cơ hội cho phát triển dịch vụ ngân hàng.
Môi trường xã hội: Qui mô dân số và cơ cấu dân số thuận lợi cho sự phát triển dịch vụ NH. Việt Nam với dân số hiện nay là hơn 82 triệu người, đa phần trong độ tuổi lao động thực sự là một thị trường đầy tiềm năng cho các sản phẩm, dịch vụ NH.